truyen sex hay
Google+
Trang chủ » Thế giới truyện » Văn học nước ngoài

Hai Vạn Dặm Dưới Biển – Chương 19 – 20 

Đăng ngày 14/6/2013 by admin

Xem toàn tập:
loading...

Chương 19

Va-ni-cô-rô

Tai nạn thương tâm của tàu Phlo-ri-đa không phải là trường hợp đặc
biệt gì lắm ngoài biển cả. Về sau này, khi tàu Nau-ti-lúx qua các vùng
biển đông tàu bè, chúng tôi đã gặp nhiều xác tàu đắm mục nát trong nước.
Còn dưới đáy thì nào súng lớn, nào neo, nào xích và hàng ngàn đồ vật
khác bằng sắt đang gỉ ra. Ngày 11 tháng 12, chúng tôi tới gần quần đảo
Pau-mô-tu rải rác khoảng năm trăm dặm từ đông -đông nam tới tây -tây
bắc. Quần đảo này có diện tích ba trăm bảy mươi dặm vuông và gồm sáu
mươi nhóm đảo san hô. Nhờ đó khối đất này sớm muộn sẽ nhập làm một với
quần đảo kề bên, và giữa Niu Di-lơn và Tân Ca-lê-đô-ni sẽ xuất hiện lục
địa thứ năm. Một hôm tôi đề cập vấn đề đó với thuyền trưởng Nê-mô, nhưng
ông ta trả lời tôi một cách lạnh lùng:
-Cần những con người mới chứ cần gì những lục địa mới!

Vẫn theo hướng cũ, tàu Nau-ti-lúx chạy ngang qua đảo Cléc-mông
Ton-ne, hòn đảo kỳ lạ nhất trong các nhóm đảo do thuyền trưởng Ben phát
hiện ra năm 1822. ở đây tôi có dịp quan sát các quần thể san hô đã tạo
nên các đảo ở miền biển Thái Bình Dương này… Khi tàu nổi lên mặt nước,
tôi có thể nhìn bao quát cả đảo Cléc-mông Ton-ne chỉ hơi nhô lên một
chút có rừng rậm phủ kín. Những cơn bão biển đã biến đất đá vôi ở đây
thành màu mỡ. Hạt cây do bão đưa từ đất liền ra, một hôm nào đó rơi
xuống đảo này, lại được bón bằng xác tôm cá và tảo thối rữa, đã làm nhú
lên bao mầm xanh. Sóng biển đã ném lên bờ một quả dừa chín từ xa tới.
Thế là cây cối mọc lên. Cây làm nước bốc hơi và tạo ra một con suối. Cây
cối dần dần phủ kín đảo. Luồng nước biển đã đưa tới đây các vi sinh
vật, côn trùng cùng với những thân cây bị nhổ bật lên từ những hòn đảo
bên. Rùa bắt đầu tới đây đẻ trứng. Chim chóc bay tới làm tổ trên những
cây non. Thế giới động vật dần dần phát triển sự sống ở đây. Tiếp đó con
người xuất hiện. Anh ta bị màu xanh tươi của cây cối và đất đai phì
nhiêu hấp dẫn. Những hòn đảo san hô -một sáng tạo vĩ đại của các sinh
vật vô cùng nhỏ bé -đã được hình thành như vậy. Đến gần tối, đảo
Cléc-mông Ton-ne khuất hẳn. Tàu Nau-ti-lúx thay đổi hẳn hướng đi. Vượt
qua chí tuyến nam ở 135 độ kinh, tàu chạy về phía tây bắc. Mặc dù mặt
trời nhiệt độ nóng bỏng, chúng tôi vẫn không cảm thấy nóng vì ở độ sâu
ba mươi, bốn mươi mét, nhiệt độ nước không quá 10 -12 độ. Ngày 15 tháng
12, tàu đi ngang quần đảo Xô-xi-ê-tê và Ta-i-ti diễm lệ, hoàng hậu của
Thái Bình Dương. Tàu đã đi được tám ngàn một trăm hải lý. Sau đó nó chạy
vào khoảng giữa quần đảo Tôn-ga Ta-bu và quần đảo Người đi biển rồi
vượt qua quần đảo Phít-gi. Quần đảo này được Ta-xman phát hiện ra năm
1643. Cùng năm đó, To-ri-xe-li phát minh ra phong vũ biểu và vua Lu-i 14
lên ngôi. Xin để bạn đọc phán xét xem sự kiện nào đó ích lợi hơn cho
loài người…

Đã một tuần nay thuyền trưởng Nê-mô không xuất hiện. Cuối cùng, sáng
27 tháng 12, ông ta bước vào phòng khách, tự nhiên thoải mái tựa như
chúng tôi vừa chia tay với ông ta năm phút trước đây. Lúc đó tôi đang
tìm vị trí con tàu chạy trên bản đồ. Nê-mô đến chỗ tôi, chỉ vào một điểm
trên bản đồ rồi nói:
-Va-ni-cô-rô. Địa danh này tác động đến tôi một
cách thần kỳ. Đó là tên những hòn đảo, nơi đoàn tàu của La Pê-ru-dơ bị
đắm. Tôi giật mình hỏi:
-Tàu Nau-ti-lúx chạy về phía Va-ni- cô-rô ư, thưa thuyền trưởng?
-Thưa giáo sư, vâng.
-Phải chăng tôi sẽ có dịp đến những hòn đảo nổi tiếng, nơi tàu Bút-xon và A-xtơ-rô-láp bị đắm?
-Vâng, nếu giáo sư muốn.
-Thế đến Va-ni-cô-rô còn xa không ạ?

-Thưa giáo sư, Va-ni-cô-rô đây rồi. Tôi cùng Nê-mô lên boong rồi chăm
chú nhìn về chân trời ở phía đông bắc hiện lên hai hòn đảo to nhỏ khác
nhau nhưng chắc cùng nguồn gốc núi lửa, có một hàng rào san hô bao quanh
khoảng bốn mươi hải lý. Chúng tôi đã tới gần đảo, đúng hơn là tới cửa
một vũng nhỏ. Cây cối xanh tươi phủ kín đảo, từ bờ biển tới đỉnh núi
cao. Tàu vượt qua một eo biển hẹp để vào phía trong hàng rào san hô.
Dưới bóng những cây sú, chúng tôi thấy rõ bóng những thổ dân đang hết
sức ngạc nhiên theo dõi con tàu. Có lẽ họ tưởng tàu hình thoi là một con
cá voi mà họ cần đề phòng. Thuyền trưởng Nê-mô hỏi tôi đã biết gì về
cái chết của La Pê-ru-dơ.
-Thưa thuyền trưởng, tôi cũng biết như mọi người thôi.
-Giáo sư có thể thuật lại cho tôi những điều mọi người đều biết không?
-Nê-mô hỏi hơi mỉa mai.

-Thưa vâng! Và tôi bắt đầu kể lại cho ông ta nghe nội dung những tin
tức cuối cùng do Đuy-mông Đuyếc-vin báo về. Sau đây là tóm tắt những tin
tức đó. Năm 1785, La Pê-ru-dơ và trợ tá của ông ta là thuyền trưởng Đờ
Lăng-glơ được vua Lu-i 16 phái đi vòng quanh trái đất trên hai chiếc tàu
Bút-xon và A-xtơ-rô-láp và bị mất tích. Năm 1791, chính phủ Pháp lo
lắng về số phận hai chiếc tàu chiến của La Pê-ru-dơ nên đã thành lập một
đội tàu đi cứu gồm hai chiếc Rơ-séc-sơ và E-xpê -răng-xơ dưới quyền chỉ
huy của Bru-ni Đăng-tơ-rơ-ca-xtô. Hai tàu này nhổ neo ở cảng Brét-xtơ
ngày 28 tháng 9. Hai tháng sau, theo báo cáo của một người tên là
Bô-đoanh, chỉ huy tàu An-béc-man, thì người ta đã thấy những mảnh tàu vỡ
ở bờ biển Tân Giê-óc-gi. Nhưng Đăng-tơ-rơ-cát-xtô không biết tin đó -vả
lại nó cũng khá mơ hồ -nên vẫn cho tàu chạy về đảo A-mi-rô-tê, theo báo
cáo của thuyền trưởng Hơn-tơn, là nơi tàu La Pê-ru-dơ bị đắm. Nhưng
cuộc tìm kiếm của Đăng-tơ-rơ Ca-xtô không đem lại kết quả gì. Hai tàu đi
cứu đã đi qua Va-ni-cô-rô mà không dừng lại. Chuyến đi kết thúc một
cách bi thảm vì chính Đăng-tơ-rơ-ca-xtô, hai thuyền phó và nhiều thủy
thủ bị chết. Người đầu tiên dò ra đúng vết tích của đoàn tàu La Pê-ru-dơ
là thuyền trưởng Đi-lông, một con sói biển lão luyện, rất thông thạo
Thái Bình Dương. Ngày 15 tháng 5 năm 1824, tàu “Xanh Pa-tơ-ríc” của
Đi-lông đi ngang qua đảo Ti-cô-pi-a thuộc nhóm đảo Tân ‰-brít. Tới đây,
một thổ dân chèo thuyền độc mộc ra bán cho Đi-lông một cái chuôi kiếm
bằng bạc trên có khắc chữ. Người này kể lại cho Đi-lông nghe rằng sáu
năm trước đây, anh ta thấy trên đảo Va-ni-cô-rô có hai người Œu trong số
thủy thủ của hai chiếc tàu bị đắm vì va phải dải đá ngầm gần đảo này.
Đi-lông hiểu ngay đó là hai chiếc tàu của La Pê-ru-dơ bị mất tích và đã
làm cho toàn thế giới xúc động. Đi-lông quyết định đến Va-ni-cô-rô, nơi
theo lời người thổ dân hãy còn vết tích của tàu đắm. Nhưng gió và luồng
nước không cho phép Đi-lông thực hiện được ý định ấy.

Ạng ta quay về Can-cút-ta. ở đây Đi-lông đã làm cho Công ty châu á
chú ý tới phát hiện của mình và giao cho ông ta một chiếc tàu cũng có
tên là Rơ-séc-sơ. Ngày 23 tháng giêng năm 1827, Đi-lông cho tàu nhổ neo
rời Can-cút-ta, có một đại diện Pháp đi theo. Sau nhiều lần ngừng lại ở
Thái Bình Dương, ngày 7 tháng 7 năm 1827, tàu Rơ-séc-sơ thả neo ở chính
cái vũng nơi tàu Nau-ti-lúx đang đỗ. Đi-lông tìm thấy ở đây nhiều di vật
của tàu bị đắm: mấy cái neo, các loại dụng cụ hàng hải và một cái
chuông bằng đồng đen có dòng chữ đề “Ba-danh-đúc” và nhãn hiệu của xưởng
công binh Brét-xtơ năm 1785. Không còn nghi ngờ gì nữa! Đi-lông tiếp
tục tìm kiếm di vật và đã ở nơi xảy ra tai nạn tới tháng 10. Sau đó ông
ta cho tàu nhổ neo và về Can-cút-ta bằng đường Niu Di-lơn. Ngày 7 tháng 4
năm 1828, Đi-lông về tới Pháp và được vua Sác-lơ X tiếp đón ân cần.
Cũng trong thời gian ấy, Đuy-mông Đuyếc-vin, chỉ huy tàu A-xtơ-rô-láp,
chẳng hay biết gì về phát hiện của Đi-lông, nên vẫn lên đường tìm kiếm
nơi tàu đắm. Lúc đó, một người thợ săn cá voi cho biết rằng thổ dân
Lu-i-di-át và Tân Ca-lê-đô-ni hiện đang giữ một số huy chương và một
huân chương chữ thập thánh Lu-i. Đuy-mông Đuyếc-vin lên đường và cho tàu
thả neo ở Hô-bác Tao-nơ hai tháng sau khi Đi-lông rời Va-ni-cô-rô. Đến
đây ông ta được biết về kết quả tìm kiếm của Đi-lông. Ngoài ra, ông ta
còn nghe tin báo của một người tên là Giem Hốp-xơ, thuyền phó tàu
I-u-ni-ơn từ Can-cút-ta đến khẳng định rằng khi tới một hòn đảo nằm ở độ
vĩ 8,18 độ và độ kinh đông 156,30 độ, Hốp-xơ thấy thổ dân có những
thanh sắt dài và những mảnh vải đỏ. Đuy-mông Đuyếc-vin lúng túng trước
những tin tức trái ngược đó và không biết có nên tin không. Tuy vậy, ông
ta vẫn cho tàu chạy theo đường Đi-lông đã đi. Ngày 9 tháng 2 năm 1828,
tàu A-xtơ-rô-láp tới đảo Ti-cô-pi-a. Sau khi lấy một người trước là thủy
thủ, nay sinh cơ lập nghiệp ở đây, lên tàu làm hoa tiêu và phiên dịch,
tàu chạy về Va-ni-cô-rô. Ngày 20 tháng 2, tàu vượt qua hàng rào san hô
rồi vào vũng.

Ngày 23 tháng 2, thủy thủ tàu A-xtơ-rô-láp đi vòng quanh đảo và chỉ
mang về một số mảnh tàu vỡ ít giá trị. Thổ dân từ chối không chỉ cho họ
chỗ tàu đắm, lấy cớ là không hiểu. Thái độ của thổ dân thật đáng nghi
ngờ. Có lẽ họ đã đối xử tàn tệ với những người bị đắm tàu và sợ Đuy-mông
Đuyếc-vin đến để trả thù cho La Pê-ru-dơ và những người xấu số cùng đi.
Cuối cùng, ngày 26 tháng 2, bị các tặng phẩm cám dỗ và hiểu rằng sẽ
không bị trả thù, các thổ dân mới chỉ cho thuyền phó Gia-ki-nô nơi tàu
đắm. ở đó, dưới độ sâu bảy, tám mét, neo, súng đại bác và các thứ khác
bằng kim loại đã bị phủ một lớp vôi. Anh em thủy thủ vất vả lắm mới kéo
lên được một chiếc neo nặng hơn bảy trăm ki-lô-gam, một khẩu đại bác và
hai khẩu súng cối. Hỏi thổ dân, Đuy-mông Đuyếc-vin được biết thêm rằng,
sau khi cả hai tàu vấp phải hàng rào san hô bị đắm, La Pê-ru-dơ nhặt
những mảnh vỡ để đóng một chiếc thuyền nhỏ. ông ta lại lên đường để lại
bị đắm một lần nữa. Nhưng ở đâu thì chẳng ai hay. Thuyền trưởng tàu
A-xtơ-rô-láp dựng một đài kỷ niệm La Pê-ru-dơ và các thủy thủ dưới bóng
cây sú. Đó là một hình tháp bốn cạnh, đơn giản, đặt trên bệ san hô.
Đuy-mông Đuyếc-vin muốn nhổ neo ngay. Nhưng thủy thủ bị sốt rét kịch
liệt và bản thân Đuy-mông cũng bị ốm. Mãi tới 17 tháng 3, ông ta mới lên
đường về được… Đó là tất cả những gì tôi có thể thuật lại cho thuyền
trưởng Nê-mô nghe. Nê-mô nói:
-Thế là cho tới nay vẫn chưa biết chiếc thuyền La Pê-ru-dơ đóng sau này bị đắm ở đâu à?

-Thưa không. Nê-mô không trả lời mà chỉ ra hiệu mời tôi theo vào
phòng khách. Tàu Nau-ti-lúx lặn xuống mấy mét, cánh cửa sắt mở ra. Tôi
chạy tới cửa, và giữa đám san hô, giữa ngàn vạn con cá nhỏ tuyệt đẹp,
tôi nhận ra những mảnh tàu vỡ, những đại bác, neo… tóm lại, những bộ
phận mà Đuy-mông Đuyếc-vin không lấy lên được. Tôi đang mải xem những di
vật đáng buồn ấy thì thuyền trưởng Nê-mô nói:
-Thuyền trưởng La
Pê-ru-dơ lên đường ngày 7 tháng 12 năm 1785 với hai tàu Bút-xon và
A-xtơ-rô-láp. Thoạt tiên, ông ta lập căn cứ ở Bô-ta-ni Bây, sau đó đến
quần đảo Xô-xi-ê-tê, Tân Ca-lê-đô-ni, Xan-ta, Crux rồi thả neo ở
Na-mu-ca nằm trong nhóm đảo Ha-oai. Cuối cùng, tàu Bút-xon của La
Pê-ru-dơ tiến gần đến hàng rào san hô, hồi đó các nhà đi biển chưa biết,
va phải dải đá ngầm gần bờ biển phía nam. Tàu A-xtơ-rô-láp vội đến cứu
và cũng vấp phải dải đá ngầm đó. Tàu Bút-xon bị đắm ngay tức khắc. Tàu
A-xtơ-rô-láp bị mắc cạn còn đứng được mấy ngày. Thổ dân trên bờ đối xử
với những người gặp nạn khá tốt. La Pê-ru-dơ lên bờ và bắt đầu đóng một
chiếc thuyền nhỏ bằng những mảnh vỡ của hai chiếc tàu bị đắm. Một số
thủy thủ tự nguyện ở lại Va-ni-cô-rô. Những người còn lại bị ốm đau kiệt
quệ thì theo La Pê-ru-dơ đi về hướng quần đảo Xa-lô-mông và hy sinh hết
ở gần bờ biển phía tây của hòn đảo chính của quần đảo này!
-Sao thuyền trưởng biết được điều đó?
-Tôi sửng sốt.
-Tôi tìm thấy vật này ở nơi đắm tàu cuối cùng đây!

Nê-mô cho tôi xem một cái tráp bằng sắt tây, trên nắp có quốc huy
nước Pháp, đã bị gỉ trong nước biển mặn. Khi ông ta mở nắp ra, tôi thấy
một tờ giấy cuộn tròn đã ngả màu vàng nhưng vẫn đọc được. Đó là chỉ thị
của Bộ trưởng Hải quân Pháp gửi thuyền trưởng La Pê-ru-dơ có lời phê của
chính vua Lu-i 16 viết ở lề!
-Đó là cái chết xứng đáng của một thủy thủ!
-Nê-mô nói.
-La
Pê-ru-dơ đã an nghỉ dưới nấm mồ san hô. Còn cái gì yên tĩnh hơn nấm mồ
đó nữa? Cầu thượng đế cho tôi và các bạn tôi cũng được như vậy!


loading...

Chương 20

Eo Biển Tô-rex

Đêm 27 rạng ngày 28 tháng 12, chúng tôi rời Va-ni-cô-rô. Tàu
Nau-ti-lúx mở hết tốc lực chạy về hướng tây nam và trong ba ngày đi được
bảy trăm năm mươi dặm, nghĩa là vượt được khoảng cách ngăn giữa nhóm
đảo của La Pê-ru-dơ và mỏm đông nam Tân Ghi-nê. Sáng mùng 1 tháng giêng
năm 1868, sau khi ngủ dậy, tôi lên boong tàu. Công-xây đón chào tôi:
-Thưa giáo sư, xin chúc ngài nhiều hạnh phúc trong năm mới.
-Anh
Công-xây, trong hoàn cảnh hiện nay, anh quan niệm thế nào là hạnh phúc?
Anh khao khát thoát khỏi cảnh tù đày này, hay mong muốn kéo dài cuộc
hành trình ngầm dưới biển của chúng ta?
-Thưa giáo sư, tôi… tôi
chẳng biết nói thế nào! Chúng ta đã thấy nhiều điều kỳ lạ, và thú thực
là hai tháng nay chúng ta không có thì giờ để buồn. Người ta thường nói,
cái kỳ diệu cuối cùng bao giờ cũng đáng ngạc nhiên nhất, và nếu cứ tiếp
tục thế này mãi thì tôi cũng không biết mọi sự sẽ kết thúc thế nào! Tôi
nghĩ chúng ta sẽ không bao giờ có dịp đi thế này nữa đâu…
-Không bao giờ, Công-xây ạ.
-Thưa giáo sư, tôi nghĩ rằng năm hạnh phúc nhất sẽ là năm chúng ta được thấy tất cả mọi thứ trên trái đất này…
-Thấy tất cả ư, Công-xây? Có lẽ đó là một câu chuyện rất dài. ý kiến của Nét Len thế nào nhỉ?

kiến của Nét Len hoàn toàn khác chúng ta. Anh ta có đầu óc thực tế và
một cái dạ dày đòi hỏi cao. Anh ta ngán ngẩm khi thấy cá, và phải ăn món
cá. Là một người †ng-glô Xắc-xông chính cống, anh ta quen chén bí-tết.
Vì vậy cũng dễ hiểu là thiếu thịt, bánh mì và rượu vang, anh ta rất khó
chịu!

-Về phần tôi, anh Công-xây ạ, tôi rất ít quan tâm đến chuyện ăn uống. Chế độ trên tàu thế này là tốt lắm rồi.
-Tôi cũng vậy ạ, -Công-xây nói.
-Vì
thế, tôi vui lòng ở lại đây cũng như Nét Len sẵn sàng chạy trốn khỏi
nơi này. Nếu năm mới sẽ rủi ro đối với tôi, thì đối với Nét sẽ ngược
lại! Như vậy thì một trong ba người chúng ta nhất định sẽ được hài lòng.
Cuối cùng, tôi xin chúc giáo sư tất cả những gì giáo sư mong muốn!
-Cám ơn Công-xây. Quà năm mới tôi xin khất anh đến khi khác và tạm thời thay bằng một cái bắt tay thật chặt. Anh bằng lòng nhé!
-Giáo sư chưa bao giờ rộng lượng như vậy!
-Công-xây
trả lời rồi đi. Mùng 2 tháng giêng. Chúng tôi đã đi được một vạn một
ngàn ba trăm bốn mươi hải lý, hay năm ngàn hai trăm năm mươi dặm, kể từ
ngày xuất phát từ biển Nhật Bản. Trước mắt chúng tôi là vùng biển san hô
ở bờ biển đông bắc châu Đại Dương. Tàu chạy cách hàng rào san hô mấy
hải lý. Nơi đây đoàn tàu của thuyền trưởng Cúc suýt bị đắm ngày 10 tháng
6 năm 1770. Tàu của Cúc húc phải bãi san hô ngầm nhưng không đắm chỉ vì
tảng san hô bị vỡ đã bịt kín ngay lỗ thủng ở vỏ tàu. Tôi rất mong được
xem bãi san hô chạy dài suốt ba trăm năm mươi dặm ở chân trời. Sóng biển
xô vào bức tường đá đó, tung bọt trắng xóa và gây nên những tiếng động
ầm ầm. Nhưng lúc đó tàu Nau-ti-lúx lặn xuống sâu nên tôi không được thấy
những bức tường san hô ở gần. Tôi đành bằng lòng với việc nghiên cứu
các loại cá mắc lưới…

Hai ngày sau khi vượt qua biển san hô, ngày mùng 4 tháng giêng, chúng
tôi nhìn thấy bờ biển Pa-poa. Nhân dịp này, thuyền trưởng Nê-mô báo cáo
cho tôi biết ý định cho tàu chạy sang ấn Độ Dương qua eo biển Tô-rex.
ông ta chỉ nói có vậy. Nét Len hài lòng khi thấy rằng đi đường ấy thì
chúng tôi sẽ tới gần bờ biển châu Œu hơn. Tô-rex là một eo biển nguy
hiểm cho tàu bè chẳng phải chỉ vì nhiều đá ngầm, mà còn vì hai bờ hay
xuất hiện những thổ dân hung dữ. Eo này tách châu Đại Dương ra khỏi một
hòn đảo lớn là Tân Ghi-nê hay Pa-poa. Đảo Pa-poa dài bốn trăm dặm, rộng
một trăm ba mươi dặm, diện tích là bốn mươi ngàn dặm địa lý. Đến giữa
trưa, khi viên thuyền phó xác định độ cao của mặt trời, tôi không thấy
rõ dãy núi ác-phan xếp thành bậc và có nhiều đỉnh nhọn hoắt. Thế là tàu
Nau-ti-lúx đã tới cửa một cái eo nguy hiểm nhất trái đất mà những người
đi biển gan dạ nhất cũng không dám vào. Eo biển này do Lu-i Tô-rex phát
hiện ra trên đường từ những biển miền nam về Ma-la-nê-đi. Cũng ở eo này,
năm 1840 mấy chiếc tàu chiến của Đuy-mông Đuyếc-vin bị mắc cạn suýt nữa
thì đắm. Ngay tàu Nau-ti-lúx vốn coi thường những hiểm nguy ngoài biển
cả, cũng phải thận trọng trước bãi san hô ngầm này. Eo Tô-rex dài khoảng
ba mươi tư dặm, nhưng vô số đảo lớn nhỏ và mỏm đá cho tàu thuyền hầu
như không qua lại được. Tính trước những khó khăn đó, thuyền trưởng
Nê-mô đã đề ra những biện pháp đề phòng rất chu đáo. ông ta cho tàu chạy
ngang mặt nước ở tốc độ chậm.

Lợi dụng thời cơ, tôi, Công-xây và Nét Len trèo lên boong tàu lúc nào
cũng vắng ngắt. Chúng tôi đứng sau buồng lái và nếu tôi không lầm thì
chính Nê-mô đích thân lái tàu. Trước mắt tôi là tấm bản đồ vịnh Tô-rex
vẽ rất tốt. Tôi hết sức chăm chú nghiên cứu bản đồ đó. Xung quanh chúng
tôi là biển đang gào thét giận dữ. Luồng nước biển cuồn cuộn từ đông nam
sang tây bắc với tốc độ hai hải lý rưỡi xô ầm ầm vào các mỏm san hô nổi
lên giữa những đợt sóng tung bọt trắng xóa.
-Biển tồi tệ nhất!
-Nét nói.
-Hết sức tồi tệ!
-Tôi trả lời.
-Và hoàn toàn không thích hợp với loại tàu như tàu Nau-ti-lúx. Nét nói tiếp:
-Chắc
cái ông Nê-mô đáng nguyền rủa này thạo đường lắm, nếu không thì tàu của
ông ta đã húc vào những mỏm san hô mà tan ra từng mảnh rồi.

Tình hình quả là nguy hiểm. Nhưng tàu Nau-ti-lúx tựa như có phép
tiên, trườn qua những bãi san hô tệ hại đó một cách dễ dàng. Nê-mô không
theo đường đi của tàu A-xtơ-rô-láp và Dê-lê đã làm Đuy-mông Đuyếc-vin
thất bại. ông ta cho tàu ngược lên phía bắc, rẽ xuống tây nam rồi lại
quay lên tây bắc, lượn quanh vô số đảo lớn nhỏ ít được nghiên cứu. Tôi
tự hỏi:
“Chẳng lẽ Nê-mô lại liều lĩnh cho tàu vào một cái lạch, mà cả hai chiếc tàu của Đuy-mông Đuyếc-vin đã bị mắc cạn? “
Nhưng
lúc đó, tàu Nau-ti-lúx lại đổi hướng lần nữa và chạy thẳng về hướng tây
nhằm phía đảo Ghê-bô-roa. Lúc đó là ba giờ chiều. Nước triều dâng lên
tới đỉnh cao nhất. Tàu Nau-ti-lúx chạy dọc bờ biển Ghê-bô-roa, cho đến
nay vẫn in bóng cây Pan-đa-núc xanh rờn trong tâm trí tôi. Chúng tôi
cách bờ ít nhất hai hải lý. Bỗng tàu bị xô mạnh, hất tôi ngã xuống. Nó
đã vấp phải một dải đá ngầm, nghiêng đi và dừng lại. Tôi đứng dậy và
thấy thuyền trưởng cùng thuyền phó đứng trên boong. Họ đang nghiên cứu
tình hình và trao đổi với nhau những câu nói nhát gừng bằng thứ tiếng
không ai hiểu nổi. Tình hình như thế này. Cách tàu hai hải lý là đảo
Ghê-bô-roa chạy dài từ bắc sang tây như một cánh tay khổng lồ. ở phía
đông nam, nước triều xuống đã làm nhô lên những mỏm san hô. Chúng tôi bị
mắc cạn đúng vào chỗ nước triều lên xuống, không đáng kể. Đó là điều
rất bất lợi cho tàu Nau-ti-lúx. Tuy vậy, tàu không hư hại gì vì khi bị
va chạm vỏ tàu rất vững chắc. Nhưng nếu vỏ tàu không bị rò thủng, thì
tàu cũng có nguy cơ bị trói chặt vĩnh viễn vào dải đá ngầm này. Thế là
chiếc tàu ngầm của thuyền trưởng Nê-mô hết đời! Nê-mô cắt ngang những
suy nghĩ của tôi. ông ta bao giờ cũng bình tĩnh, tự chủ. Trên mặt ông ta
chẳng hề có nét gì là hoang mang, giận dữ.

-Thưa thuyền trưởng, đây là một tai nạn rủi ro?
-Tôi hỏi.
-Không, chỉ là một trở ngại ngẫu nhiên thôi. Tôi phản đối:
-Một
trở ngại có thể buộc ngài phải trở về mặt đất, nơi ngài đang trốn
tránh! Nê-mô nhìn tôi một cách bí ẩn và lắc đầu. Cử chỉ ấy nói khá rõ là
chẳng có cái gì có thể bắt ông ta lại đặt chân lên đất liền được. ông
ta nói:
-Thưa ngài A-rô-nắc, tàu Nau-ti-lúx không chết được đâu. Nó
sẽ còn giới thiệu với ngài nhiều kỳ quan của biển cả. Cuộc hành trình
của chúng ta chỉ mới bắt đầu và tôi hoàn toàn không muốn chấm dứt quan
hệ với ngài sớm như vậy.
-Nhưng, thưa thuyền trưởng, -tôi tỏ vẻ không
hiểu ý của câu nói châm biếm đó, -chúng ta bị mắc cạn khi triều lên.
Nói chung, ở Thái Bình Dương triều dâng rất yếu. Nếu ngài không giảm bớt
trọng lượng thừa của tàu đi thì tôi không hiểu tàu sẽ ra khỏi nơi này
bằng cách nào?
-Thưa giáo sư, ngài nói đúng. ở Thái Bình Dương nước
triều lên không đáng kể, nhưng ở eo Tô-rex này, khoảng chênh lệch của
nước triều lên xuống là một mét rưỡi. Hôm nay là mùng 4 tháng giêng. Năm
ngày nữa thì trăng tròn. Tôi sẽ hết sức ngạc nhiên nếu mặt trăng, người
bạn đường chung thủy của hành tinh chúng ta, không nâng nước biển lên
tới mức tôi cần. Chỉ có mặt trăng mới có thể giúp được tôi trong việc
này! Nói đoạn, thuyền trưởng Nê-mô và viên thuyền phó đi xuống. Còn con
tàu thì đứng tại chỗ không nhúc nhích, dường như đã bị san hô gắn chặt
lại.
-Thế nào, giáo sư?

-Nét Len hỏi tôi khi Nê-mô vừa đi khỏi.
-ông bạn Nét ơi, chúng ta sẽ chờ con nước lên vào ngày chín tháng giêng chứ? Mặt trăng sẽ giúp ta thoát khỏi nơi này đây!
-Chỉ cần thế thôi ư?
-Chỉ cần thế thôi.
-ông Nê-mô đành chịu bó tay mà trông chờ vào mặt trăng thôi ư? Sao ông không sử dụng neo và các máy móc?
-Chỉ cần nước triều lên là đủ!
-Công-xây chất phác trả lời. Nét nhìn Công-xây và nhún vai. Máu thủy thủ trong người anh ta bốc lên.
-Thưa
giáo sư, -Nét nói tiếp, -xin ngài hãy nhớ lời tôi: không bao giờ chiếc
tàu này có thể chạy trên hoặc dưới mặt nước được nữa! Nó chỉ còn giá trị
là một đống sắt vụn. Tôi nghĩ đã đến lúc phải cắt đứt quan hệ với ông
Nê-mô rồi.
-ông bạn Nét ơi, -tôi trả lời, -về chuyện tàu Nau-ti-lúx
thì ý kiến tôi lại khác. Bốn ngày nữa chúng ta sẽ được dịp thử thách sức
mạnh của nước triều Thái Bình Dương. Lời khuyên của ông chỉ hợp thời
nếu chúng ta ở đâu đó gần bờ biển Anh hay Prô-văng-xơ, còn ở bờ biển
Pa-poa này thì chẳng được đâu! Chỉ có thể nghe theo anh trong trường hợp
tàu Nau-ti-lúx không thoát được ra khỏi chỗ cạn này. Tôi vẫn cho hành
động như vậy là hết sức liều lĩnh.
-Có thể ngó lên đảo một chút không nhỉ?
-Nét nói.

-Trên đảo có cây cối, dưới bóng cây rất sẵn muông thú mà ta có thể
chế biến các món thơm ngon… Chao ôi, bây giờ có miếng thịt mà chén
nhỉ.
-Lần này thì anh Nét đúng, -Công-xây nói, -tôi hoàn toàn tán
thành anh Nét. Giáo sư có thể đề nghị thuyền trưởng cho chúng tôi lên
đảo một lát được không? Nếu không thì chúng ta sẽ mất hết thói quen đi
trên mặt đất. Tôi trả lời:
-Đề nghị thì tôi làm được, nhưng chắc ông ta sẽ từ chối.
-Nhưng
nếu giáo sư cứ mạnh dạn đề nghị thì ít nhất ta cũng biết được Nê-mô tốt
đến mức nào, -Công-xây nói. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy thuyền trưởng
Nê-mô đồng ý và tế nhị đến mức không đòi hỏi chúng tôi phải hứa quay về
tàu. Vả lại, chạy trốn qua Tân Ghi-nê vô cùng nguy hiểm, tôi chẳng
khuyên Nét liều mạng làm gì. Thà làm tù binh trên tàu Nau-ti-lúx còn hơn
là rơi vào tay thổ dân Pa-poa hung dữ. Tôi không hỏi Nê-mô có cùng đi
với chúng tôi không. Tôi tin chắc rằng không ai trong đội thủy thủ sẽ đi
kèm chúng tôi trong chuyến dạo chơi này. Nét sẽ phải đích thân điều
khiển xuồng thôi! Tàu cách bờ không quá hai hải lý, Nét có thể lái chiếc
xuồng mỏng manh len lỏi giữa bãi đá ngầm đã gây bao tai họa cho những
tàu lớn. Hôm sau, mùng năm tháng giêng, chiếc xuồng được đưa thẳng từ
boong tàu xuống nước. Hai người có thể làm việc một cách dễ dàng.

Chúng tôi mang theo súng và rìu, đến tám giờ thì rời khỏi tàu
Nau-ti-lúx. Biển lặng. Gió thổi nhẹ từ bờ ra. Công-xây và tôi ra sức
chèo. Nét lái thuyền len lỏi qua những lạch nước hẹp. Nét không giấu
được sự phấn khởi. Anh ta cảm thấy mình như một người tù được phóng
thích và chẳng hề nghĩ đến chuyện phải quay về “nhà tù”. Anh ta nhắc đi
nhắc lại:
-Thịt! Chúng ta sẽ ăn thịt, thịt rất ngon! Thịt ra thịt!
Quả là có thiếu bánh mì! Tôi không bảo cá là dở, nhưng ăn cá mãi không
chịu nổi! Nếu có miếng thịt tươi đem nướng trên than hồng thì thực đơn
hàng ngày của ta cũng phong phú hơn!
-Sành ăn nhỉ!
-Công-xây nhận xét.
-Mới nói thế mà tôi đã nhỏ dãi ra rồi!
-Cần tìm hiểu xem ở khu rừng này có nhiều muông thú không?
-Tôi nói.
-Và chúng có vồ người đi săn không?
-Vồ cũng được, ngài A-rô-nắc ạ.

-Nét trả lời và nhe những chiếc răng sắc như lưỡi rìu ra.
-Tôi sẵn sàng chén hết một con hổ nếu không tìm ra được một loài thú bốn chân nào khác trên đảo này.
-Ông bạn Nét làm chúng ta phát sợ, -Công-xây nói.
-Bất kỳ một con vật nào xuất hiện: có lông hay không có lông, bốn chân hay hai chân, tôi cũng sẽ “chào mừng” bằng một viên đạn!
-ông Nét bắt đầu làm loạn rồi đấy!
-Tôi nói.
-Đừng
sợ, ngài A-rô-nắc ạ, -Nét trả lời, -chèo mạnh lên! Không đầy nửa tiếng
nữa tôi sẽ thết các vị các món ăn do chính tay tôi làm. Đến tám giờ
rưỡi, sau khi tránh được vòng đai đá ngầm, xuồng vào tới bờ.

Xem cả bộ:

Các chương khác:

xem thêm -->> truyen sex

|

xem thêm -->> Girl xinh với nội y

Truyện cùng chuyên mục:

Thế giới truyện:
Truyện tranh 18, Truyện dâm, truyện 18, truyện làm tình
Tin tức:
Girl xinh nội y
Mobile-Công Nghệ
Ngôi Sao – Showbiz
Nhịp Sống Trẻ
Tin Sock – Tin Hot
Đời Sống – Tổng Hợp
Game kinh điển: