truyen sex hay
Google+
Trang chủ » Thế giới truyện » Văn học cổ điển

Con Gái Người Giữ Ký Ức – Chương 03-04 

Đăng ngày 14/6/2013 by admin

Xem toàn tập:
loading...

Chương 3
 

NORAH MỞ MẮT, BÊN NGOÀI, ĐÊM ĐÃ TAN DẦN, TRỜI DẦN chuyển bình minh nhưng mảnh trăng vẫn còn lơ lửng phía xa sau những rặng cây, hắt ánh sáng yếu ớt vào tận trong phòng. Nàng vừa mơ thấy mình lê bước trên mặt đất đã đóng băng, cố tìm kiếm thứ gì đó vừa đánh mất. Những lưỡi cỏ sắt và giòn cứa vào người nàng, để lại những vết thương nhỏ xíu trên da thịt. Nàng choàng tỉnh dậy và giơ tay lên, cảm giác hoảng hốt trong giây lát, nhưng hai bàn tay nàng vẫn lành lặn, móng tay đã giũa và tô sơn gọn ghẽ.

Đứa bé nằm trong chiếc nôi đặt bên cạnh đang khóc. Bằng một cử động mềm mại, xuất phát từ bản năng hơn là sự điều khiển của bộ não, Norah bế bổng nó lên giường. Khoảng đệm cạnh nàng đã lạnh tanh, phủ một màu trắng lạnh lẽo. David đã bị gọi tới phòng khám trong lúc nàng còn đang ngủ. Norah kéo cậu con trai ủ vào cơ thể ấm áp của mình, cởi bỏ nút áo. Đôi bàn tay nhỏ xíu của cậu nhỏ đập nhẹ lên bầu vú căng tròn của mẹ như những cánh bướm; nó ngậm lấy đầu vú. Cơn đau nhói lên trong giây lát, rồi dịu dần đi theo dòng sữa chảy. Nàng vuốt lên làn tóc nhẹ như tơ, lần da đầu mỏng manh của nó. Ôi, kỳ diệu làm sao, sức mạnh của cơ thể. Đôi bàn tay thằng bé nằm yên, ung dung, như những ngôi sao nhỏ điểm trên vầng hào quang của nàng.

Nàng nhắm mắt, nhẹ nhàng thả trôi vào trạng thái nửa ngủ nửa thức. Mạch nguồn ẩn sâu bên trong nàng dần được khai mở. Sữa tuôn chảy và, thật kỳ lạ, Norah thấy như mình đã biến thành một con sông, một ngọn gió, ôm trọn vạn vật: những nhành hoa thủy tiên đặt trên bàn trang điểm, những làn cỏ âm thầm và duyên dáng đâm chồi nảy lộc ngoài kia, những búp lá non trên cây bắt đầu bung ra. Những con ấu trùng nhỏ xíu, trắng muốt như ngọc, nằm ẩn dưới đất sâu, dần chuyển mình biến thành sâu bướm, sâu đo, ong mật. Chim chóc tung cánh bay, ríu rít hót gọi nhau. Của nàng, tất cả là của nàng. Paul siết chặt nắm tay be bé ngay dưới cằm. Hai má nó phập phồng thật nhịp nhàng lúc bú. Xung quanh họ, cả vũ trụ vừa rầm rì , vừa âm thầm, vừa dữ dội.

Trái tim Norah tràng ngập yêu thương, niềm hạnh phúc vô bờ và cả nỗi đau đớn khôn cùng.

Nàng đã không rơi nước mắt trước cái chết của đứa bé gái như David. Con bé mắc chứng xanh tím, David đã nói vậy, nước mắt len lỏi giữa những sợi râu lởm chởm mới mọc trong ngày của anh. Đứa bé ấy không biết đến hít thở khí trời là gì, dù chỉ một lần. Lúc ấy Paul đang nằm trong vòng tay nàng, Norah còn mải ngắm nó: khuôn mặt xinh xinh, trong trẻo và nhăn nheo, cái mũ trùm đầu bằng len có sọc nhỏ, những ngón tay nhỏ xíu, hồng hồng, mảnh mai và hơi cong cong. Móng tay nó bé tí ti, vẫn còn mềm và trong suốt như ánh trăng buổi ban mai. Norah không thể, chưa thể, nhận thức được những lời David nói. Ký ức của nàng về buổi đêm trước đó ban đầu còn rõ ràng, rồi nhòa dần: cơn bão tuyết, và cuốc xe dài lê thê qua những con phố vắng tanh tới phòng khám, David dừng lại ở tất cả các chốt đèn đỏ trong khi nàng vật lộn với những cơn co thắt đau xé người để đẩy đứa trẻ ra, cơ thể run rẩy và căng cứng. Sau đó nàng chỉ còn nhớ những điều rất lặt vặt, rất kỳ lạ: bầu không khí tĩnh lặng xa lạ của căn phòng khám, cảm giác mềm mại khi tấm vải màu xanh đã sờn được phủ lên đầu gối nàng. Mặt bàn khám lạnh toát áp vào tấm lưng trần của nàng. Chiếc đồng hồ mạ vàng của Caroline Gill sáng lấp lánh mỗi lần cô ta vươn tay ra để bơm khí gây tê cho Norah. Sau đó nàng tỉnh dậy thì Paul đã nằm gọn trong vòng tay mình còn David ngồi bên cạnh, khóc nức nở. Nàng ngước mắt lên, nhìn anh, vừa quan tâm lại vừa thờ ơ thích thú. Thực ra đó là do tác dụng của thuốc gây mê, dư chấn của ca sinh nở tạo ra những hormone gây phấn khích. Một đứa con nữa, một đứa trẻ chết non – sao lại thế? Nàng vẫn còn nhớ cơn co giật thứ hai, và giọng nói của David nặng trịch như đá ném xuống mặt nước trắng xóa. Nhưng đứa bé sơ sinh đang nằm trong vòng tay nàng thật hoàn hảo, thật xinh xắn, thế là quá đủ. Không sao đâu anh, nàng vuốt nhẹ lên cánh tay David và nói, không sao đâu.

Cho tới ngày hôm sau, khi họ rời phòng khám, bước ngập ngừng về phía luồng không khí ẩm ướt giá lạnh của buổi chiều, nỗi đau mất mát mới thực sự thấm thía. Trời đã nhá nhem tối, bầu không khí xông lên mùi tuyết tan và hơi đất. Nền trời u ám bao phủ một màu trắng xóa hơi vẩn lên chút mây phía sau những rặng tiêu huyền khẳng khiu trụi lá. Nàng bế Paul – nhẹ bẫng như một chú mèo con – với một cảm giác thật lạ lùng, nàng đang đưa một con người hoàn toàn mới về nhà. Nàng đã trang hoàng căn phòng cẩn thận, kỳ công chọn một chiếc cũi và tủ bàn đóng bằng gỗ thích rất xinh xắn, đã gắn rải rác những con gấu trên tường, đã tự tay may tất cả rèm cửa, tự thêu cả tấm chăn. Mọi thứ đã được sắp xếp đâu vào đấy, đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, con trai nàng giờ cũng đã nằm gọn trong vòng tay nàng. Vậy mà chỉ mới đi tới cửa, nàng bỗng đứng sững lại giữa hai cây trụ bê tông chóp nhọn, chân không rời nửa bước.

“David, “ nàng cất tiếng gọi. Anh quay lại, khuôn mặt nhợt nhạt cùng mái tóc sẫm màu, trông như một cái cây trên nền trời xám.

“Sao?” anh hỏi. “Sao thế em?”

“Em muốn nhìn thấy con bé,” nàng nói, giọng khẽ như một lời thì thầm nhưng đầy vẻ cả quyết giữa không gian tĩnh lặng của bãi đỗ xe. “Chỉ một lần thôi. Trước khi chúng ta rời nơi này. Em phải nhìn thấy nó.”

David thọc tay vào túi áo và nhìn xuống mặt đường. Những cột băng nhọn bám trên mái nhà hình dích dắc rơi vỡ tan thành nhiều mảnh, nằm lăn lóc ngay gần bậc tam cấp

“Ôi, Norah,” anh cất giọng yếu ớt. “Xin em, ta về nhà thôi. Chúng ta đã có một đứa con trai xinh xắn rồi kia mà.”

“Em biết,” nàng nói, bởi vì đó là năm 1964 và anh là chồng nàng, nàng luôn làm theo mọi ý muốn của anh. Nhưng nàng vẫn không nhúc nhích nổi một li, nàng không muốn, khi nghĩ tới việc nàng đang bỏ lại một phần rất quan trọng của chính mình. “Ôi! Chỉ một lúc thôi, David. Sao lại không được chứ?”

Mắt họ chạm nhau, và nỗi đau đớn trong mắt anh khiến mắt nàng đẫm lệ.

“Con bé không có ở đây.” Giọng David khô khốc. “Đó là lý do. Có một khu nghĩa địa trong khuôn viên trang trại nhà Bentley. Ở hạt Woodford. Anh đã nhờ cậu ấy đưa con bé đến đó. Sau này, tới mùa xuân, ta có thể tới thăm lại con. Ôi, Norah, xin em. Em làm tim anh tan nát.”

Norah nhắm mắt lại, cảm giác kiệt quệ trước ý nghĩ một đứa trẻ sơ sinh, chính con gái nàng, nằm dưới ba tấc đất lạnh lẽo giữa tiết tháng Ba. Đôi tay nàng đang bế Paul cứng đơ lại và trơ như đá, nhưng toàn thân lại có cảm giác như sắp tan chảy, như thể nàng cũng sẽ hóa thành nước trôi xuống các mương rãnh và biến mất cùng tuyết lạnh. David nói đúng, Norah tự nhủ, nàng không muốn thấy cảnh này. Khi anh bước lên bậc tam cấp và quàng tay quanh vai nàng, nàng gật đầu, và họ cùng đi qua bãi đỗ xe vắng tanh, bước về phía ánh chiều đang dần tắt. Anh kiểm tra ghế ngồi, lái xe về nhà thật cẩn trọng, máy móc; họ bế Paul qua mái hiên trước, qua cửa vào; và đặt thằng bé vẫn đang ngủ say sưa vào căn phòng của nó. Cách David chăm chút mọi việc, cách anh săn sóc nàng đã đem đến cho nàng cảm giác gì đó giống như được xoa dịu, và nàng không còn đề cập với anh về ước nguyện muốn nhìn thấy con gái họ thêm một lần nào nữa.

Nhưng giờ đêm nào nàng cũng mơ thấy mình đánh mất thứ gì đó.

Paul đã ngủ say. Bên ngoài cửa sổ, những cành tiêu huyền lấm tấm lộc non khẽ rung rinh trên nền trời phơn phớt màu chàm. Norah xoay người, chuyển Paul sang bú bầu vú bên kia, và nhắm mắt lại, thả trôi vào giấc ngủ. Đột nhiên nàng tỉnh giấc, thấy người ướt đẫm và nghe có tiếng khóc ngằn ngặt, khi ấy ánh trăng đã tràn ngập khắp căn phòng. Hai bầu vú của nàng đã lại căng đầy sữa; đã ba tiếng trôi qua. Nàng ngồi dậy, thấy trong người nặng nề và trì trệ, khối cơ bụng nhão tới mức trũng hẳn xuống mỗi khi nàng ngả lưng, đôi bầu vú căng cứng vì sữa, các khớp xương vẫn còn nhức nhối sau ca sinh nở. Dưới sảnh, những tấm ván sàn kêu kẽo kẹt.

Nằm trên bàn thay tã, Paul càng khóc dữ hơn, người nó vằn lên những nốt đỏ lốm đốm. Nàng cởi hết quần áo ướt và chiếc tã vải bông sũng nước của nó. Làn da thằng bé thật mỏng manh, cẳng chân nó khẳng khiu và đỏ au như cái cánh gà đã vặt trụi lông. Sâu thẳm trong tâm khảm của nàng, đứa con gái đã chết vẫn còn quanh quẩn đâu đó, đang dõi theo họ, âm thầm lặng lẽ. Nàng chấm cồn vào rốn Paul, vứt chiếc tã bẩn vào xô giặt, rồi mặc quần áo sạch cho nó.

“Con yêu,” nàng bế nó lên, miệng thì thầm. “Bé ngoan của mẹ,” nói rồi, nàng bế thằng bé lên và đi xuống tầng dưới.

Trong phòng khách, mấy tấm mành mành vẫn buông, rèm rủ kín. Norah ngả lưng lên chiếc ghế bọc da êm mềm đặt trong góc phòng, cởi nút áo. Dòng sữa lại tuôn trào trong nhịp chảy ào ạt mãnh liệt tưởng như không gì ngăn nổi, một sức mạnh dường như xóa tan hoàn toàn bản ngã của nàng trong quá khứ. Ta bừng tỉnh để rồi mê ngủ[6]. Nàng thầm nghĩ trong lúc ngả lưng xuống ghế, tâm trí bỗng lẫn lộn bởi không tài nào nhớ ra ai đã viết câu thơ này.

Căn nhà lặng im như tờ. Tấm màn chắn lò sưởi đóng im ỉm, ngoài trời lá cây reo xào xạc. Đằng xa, cánh cửa phòng tắm bật mở rồi đóng lại, tiếng nước chảy nghe thật khẽ. Bree, em gái nàng, rón rén bước xuống cầu thang, trên người mặc một chiếc áo sơ mi tay dài thượt phủ kín cả đầu ngón tay. Hai cẳng chân cô trắng muốt, đôi bàn chân trần nhỏ nhắn nổi bật trên nền sàn lát gỗ.

“Đừng bật đèn,” Norah cất tiếng.

“Vâng.” Bree bước tới và vuốt nhẹ đầu ngón tay lên đầu Paul.

“Cháu của dì sao rồi?” Cô nựng. “Paul xinh có khỏe không?”

Norah nhìn khuôn mặt bé xíu của con trai, ngỡ ngàng trước cái tên của nó, như mọi khi. Thằng bé vẫn chưa đủ lớn để mang cái tên ấy, với nó cái tên chỉ như một dải băng keo tay, một vật gì đó dễ dàng rơi tuột đi và biến mất. Nàng đã đọc – ở đâu nhỉ? Nàng chẳng nhớ nữa – có những người không chịu đặt tên cho con mình trong mấy tuần đầu, vì cảm giác chúng vẫn chưa thực sự hiện diện trên trái đất này mà vẫn còn là những thực thể ở giữa hai thế giới.

“Paul.” Nàng nói to, tự tin và cả quyết, giọng ấm áp như một viên đá đặt dưới nắng. Một niềm tin vững chắc.

Nàng thầm nói thêm với chính mình, Phoebe.

“Nó đói đấy,” Norah nói. “Lúc nào nó cũng đói thôi.”

“A. Thế thì giống dì nó rồi. Em đi lấy ít bánh mì với cà phê đây. Chị muốn ăn chút gì không?”

“Lấy cho chị ít nước thôi,” nàng đáp, mắt dõi theo Bree rời khỏi phòng, chân tay cô thật dài và duyên dáng. Thật lạ, em gái nàng, người hoàn toàn trái ngược với nàng, báo ứng của nàng, lại là người nàng muốn có mặt ở đây, nhưng sự thực là như vậy.

Bree mới chỉ hai mươi tuổi, nhưng là típ người cứng đầu và tự tin vào bản thân đến độ lắm lúc Norah ngỡ chính cô mới là chị. Ba năm trước, khi còn là một nữ sinh lớp mười một trung học, Bree đã bỏ trốn cùng một dược sĩ sống bên kia đường, một người đàn ông độc thân gấp đôi tuổi cô. Mọi người đều chê trách anh chàng dược sĩ, ngần ấy tuổi đầu thì phải biết điều hơn lẽ thiệt chứ. Về phần Bree, họ cho rằng những hành động điên rồ như thế là hệ quả của nỗi đau đột ngột mất đi người cha giữa lúc cô bé đang tuổi mới lớn, cái tuổi thật mong manh bất ổn làm sao, ai cũng đồng ý như vậy cả. Họ còn đồn đoán rằng cuộc hôn nhân này sẽ chả mấy chốc mà tan, mà quả có thế thật.

Nhưng nếu mọi người tưởng rằng cuộc hôn nhân đổ vỡ sẽ quật ngã được Bree thì họ đã nhầm to. Khi Norah còn con gái, thế giới đã dần đổi khác, và Bree đã không trở về nhà trong sự thuần phục và hổ thẹn như mong đợi. Thay vì thế, cô ghi danh vào đại học, đổi tên từ Brigitte thành Bree vì cô thích cách phát âm của từ này: phóng khoáng, cô nói vậy, và tự do.

Bà mẹ của hai cô gái, nhục nhã vì cái đám cưới đầy tai tiếng và vụ ly dị còn tai tiếng hơn, đã cưới ngay một viên phi công làm cho hãng TWA và chuyển tới St. Louis sống, bỏ mặc hai chị em tự xoay xở. Chậc, ít nhất thì mẹ cũng có một đứa con gái biết lẽ phải trái, bà đã nói vậy, ngẩng đầu lên khỏi hộp đồ sứ bà đang cặm cụi đóng gói. Khi ấy là mùa thu, không khí hanh hao, lá vàng đổ khắp nơi. Mái tóc vàng ánh kim của bà cuộn gọn thành một cái búi nhẹ tênh, và những đường nét tinh tế trên khuôn mặt bà bỗng dịu lại vì cảm xúc bất chợt. Ôi, Norah, con không biết mẹ biết ơn Chúa tới mức nào vì đã cho mẹ một đứa con ngoan ngoãn như con đâu. Dù con có không bao giờ lập gia đình, con vẫn luôn là một quý bà. Norah lúc ấy đang dở tay xếp tấm ảnh chân dung bố được đóng khung vào thùng các tông, đã đỏ bừng mặt vì khó chịu và giận dữ. Nàng cũng bị sốc bởi những hành động điên rồ, sự táo tợn của Bree, nàng cảm thấy giận dữ vì dường như mọi quy tắc đều đã bị đảo lộn, vì Bree có vẻ như chẳng bị ảnh hưởng tí gì bởi tất cả mọi chuyện – đám cưới, vụ ly dị, tai tiếng.

Nàng căm ghét những gì Bree đã gây ra cho họ.

Nàng ao ước trong tuyệt vọng, giá mà chính nàng mới là người làm những việc ấy.

Nhưng chuyện đó sao có thể xảy ra với nàng được. Lúc nào nàng cũng ngoan hiền; đó là bản chất của nàng. Nàng sống gần gũi với bố, một người đàn ông tính tình xuề xòa, vô tổ chức, một chuyên gia về cừu, ông thường dành nhiều ngày trời giam mình trong phòng kín ở tầng trên cùng để nghiền ngẫm các tờ chuyên san, hay ở trạm nghiên cứu, đứng giữa lũ cừu với đôi mắt vàng ệch nhìn nghiêng nghiêng vẻ lạ lẫm. Nàng yêu ông, và cả cuộc đời mình, nàng cảm thấy mình có bổn phận phải làm cách nào đó bù đắp lại sự thờ ơ của ông đối với gia đình; và nỗi thất vọng của mẹ nàng vì đã trót trao cuộc đời mình cho một lão già gàn dở. Khi ông mất, sức mạnh thôi thúc nàng sắp xếp mọi việc vào đúng trật tự của nó và hàn gắn thế giới quanh nàng chỉ càng mạnh mẽ thêm. Vì vậy nàng lại tiếp tục cuộc sống ấy, lặng lẽ học tập và làm tất cả những gì mọi người mong mỏi ở nàng. Sau khi tốt nghiệp, nàng làm việc sáu tháng ở công ty điện thoại, một công việc mà nàng chẳng lấy gì làm thích thú và đã rất vui sướng được từ bỏ nó khi kết hôn với David. Cuộc gặp gỡ giữa họ tại gian hàng đồ lót trong khu trung tâm mua sắm WolfWile, đám cưới kín đáo chóng vánh của họ, là điều gần với sự điên rồ nhất mà Norah từng làm.

Bree vẫn hay cợt rằng, cuộc đời của Norah chẳng khác gì một bộ phim sitcom chiếu trên TV. Với chị thế là ổn, cô nói, hất mớ tóc dài ra sau lưng, chiếc vòng bạc rộng bản đẩy lên gần sát khuỷu tay. Em ấy à, em chẳng chịu thấu đâu. Chắc em sẽ phát điên chỉ trong một tuần mất. Một ngày chứ!

Norah ngấm ngầm căm giận, khinh bỉ và cả ghen tị với Bree, nhưng nàng cắn răng không nói ra; Bree tham gia các lớp học về Virgina Wolf[7], chuyển đến sống cùng ông chủ một nhà hàng thực phẩm dinh dưỡng ở Louisville, và thôi không ghé thăm nữa. Kể cũng lạ, khi Norah mang bầu, mọi chuyện thay đổi hẳn. Bree lại xuất hiện, mang tới những món đồ kết ren và vòng cổ chân bằng bạc nhập khẩu từ Ấn Độ, cô tìm thấy mấy món này trong một cửa tiệm ở San Francisco. Cô còn mang tới từng tập giấy nến in những lời khuyên về phương pháp cho con bú khi nghe tin Norah tính không dùng tới sữa ngoài. Khi ấy, Norah thực sự mừng rỡ khi được gặp cô. Mừng vì những món quà vừa dễ thương vừa thiếu thực tế, mừng vì sự hỗ trợ của cô. Vào năm 1964,cho con bú sữa mẹ là một việc làm táo bạo, và nàng hầu như không tìm được những thông tin mình cần. Bà mẹ của họ từ chối bàn luận về ý tưởng này; còn mấy bà mấy chị trong tổ khâu vá của nàng thì kêu rằng họ sẽ mang ghế vào phòng tắm ngồi để nàng thoải mái cho con bú. Nghe chuyện, Bree đã làm nàng thấy nhẹ nhõm biết bao khi hét ầm lên. Mấy bà hay làm bộ quá đấy! Cô chì chiết. Kệ họ đi chị.

Tuy vậy, dù biết ơn sự hỗ trợ của Bree, đôi khi Norah vẫn có cảm giác bất an. Trong thế giới của Bree, thế giới dường như chủ yếu tồn tại ở một nơi nào đó khác, ở California, Paris hay New York, những người phụ nữ trẻ có thể để ngực trần dạo bộ quanh nhà, chụp những bức ảnh của chính mình với đứa bé kề sát bộ ngực đồ sộ, viết những bài báo cáo cổ động cho giá trị dinh dưỡng của sữa mẹ. Chuyện đó là hoàn toàn tự nhiên, nó tồn tại trong bản năng của chúng ta, loài động vật có vú. Bree lý luận, nhưng chỉ riêng cái ý nghĩ coi bản thân mình như động vật có vú, bị chi phối bởi bản năng và được miêu tả bằng những từ ngữ kiểu bú mớm (nàng thấy nghe cũng na ná như thú tính, đã hạ thấp một hình ảnh cao đẹp xuống ngang tầm với một trại súc vật), đã khiến Norah đỏ bừng mặt và chỉ muốn biến ngay khỏi phòng.

Giờ Bree đã trở lại, trên tay bưng một khay đầy cà phê, bánh mì tươi, bơ. Mái tóc dài của cô xõa xuống bờ vai khi cô nghiêng người đặt chiếc cốc cao đầy nước mát lạnh lên chiếc bàn kê cạnh Norah. Cô bỏ cái khay lên bàn uống cà phê và ngồi xuống sofa, đôi chân trắng muốt thu lại phía dưới.

“Anh David đi rồi hả chị?”

Norah gật đầu. “Chị còn không biết anh ấy dậy lúc nào.”

“Chị nghĩ anh ấy cứ vùi đầu vào công việc như vậy có tốt không?”

“Có chứ,” Norah nói giọng cả quyết. “Chị thực sự nghĩ như vậy.” Bác sĩ Bentley đã nói chuyện với các bác sĩ khác ở phòng khám, và họ đề nghị David nghỉ ngơi một thời gian, nhưng anh từ chối. “Chị nghĩ lúc này anh ấy cứ bận bịu là tốt nhất.”

“Thật không? Còn chị thì sao?” Bree hỏi, há miệng cắn một miếng bánh.

“Chị à? Thành thật mà nói, chị rất ổn.”

Bree phẩy tay. “Chả lẽ chị không nghĩ là…” cô dợm giọng , nhưng trước khi cô kịp phê phán David, Norah đã ngắt lời.

“Thật may vì có em ở đây,” nàng nói. “Sẽ chẳng có ai chịu nói chuyện với chị đâu.”

“Vớ vẩn. Nhà này chả đầy những người muốn nói chuyện với chị đấy thôi.”

“Chị có một cặp sinh đôi, Bree à.” Norah nói khẽ, cảm nhận rõ ràng giấc mơ của mình, giấc mơ với khung cảnh lạnh lẽo trống trải, và cuộc tìm kiếm điên dại. “Sẽ chẳng có ai đả động gì về con bé. Họ cư xử như muốn nói chị đã có Paul rồi, chị nên tự cảm thấy hài lòng mới phải. Như thể mọi cuộc đời đều có thể thay thế được. Nhưng chị có một cặp sinh đôi. Chị có cả một đứa con gái nữa…”

Nàng ngừng lời, trong họng chợt thấy nghèn nghẹn.

“Ai cũng buồn cả,” Bree dịu dàng nói. “Vừa vui lại vừa buồn, tất cả đều cùng một lúc. Họ không biết phải nói sao cho phải, vậy thôi.”

Norah bế bồng Paul, giờ đang say ngủ, áp vào vai mình. Hơi thở của thằng bé phả ra âm ấm nơi cổ nàng; nàng xoa lên lưng nó, vẫn chưa lớn hơn tay nàng là bao.

“Chị biết,” nàng nói. “Chị biết chứ. Nhưng mà.”

“Lẽ ra David không nên quay lại làm việc sớm như thế,” Bree nói. “Chị mới chỉ sinh được có ba ngày thôi mà.”

“Anh ấy tìm thấy niềm an ủi trong công việc,” Norah nói. “Chị mà có việc, chị cũng đi làm ngay.”

“Không,” Bree lắc đầu. “Không, chị sẽ không làm thế đâu, Norah. Chị biết đấy, em ghét phải nói ra, nhưng David đang tự khép mình lại, khóa chặt mọi cảm xúc. Còn chị thì vẫn cố gắng tự khỏa lấp nỗi trống trải. Hàn gắn mọi thứ. Nhưng chị không thể.”

Norah nhìn em gái, tự hỏi không hiểu anh chàng dược sĩ đã phải kiềm chế những cảm xúc nào; vì dù rất cởi mở, phóng khoáng, nhưng Bree chưa bao giờ đả động tí gì đến cuộc hôn nhân chóng vánh của mình. Và dẫu cảm thấy có phần xuôi theo ý kiến em gái, nàng vẫn thấy mình có bổn phận phải bảo vệ David , anh đã vượt qua nỗi đau của riêng mình để chăm lo mọi việc: từ cái đám ma lặng lẽ không một người tham dự, rồi giải thích với bạn bè, cả việc nhanh chóng thu dọn những tàn dư của nỗi đau buồn nữa.”

“Anh ấy cần phải làm theo cách của riêng mình,” nàng nói, với tay ra kéo tấm mành mành lên. Bầu trời đã chuyển màu xanh lơ tươi sáng, và dường như chồi non trên những cành nhánh đã phình to thêm chỉ sau vài giờ. “Bree à, chị ước gì chị được nhìn thấy con bé. Mọi người sẽ nghĩ như thế là gớm ghiếc, nhưng chị vẫn ước được thấy nó. Ước gì chị được chạm vào nó, chỉ một lần thôi cũng được.”

“Chẳng có gì là gớm ghiếc đâu chị,” Bree dịu dàng. “Em nghĩ ý nguyện đó là hoàn toàn chính đáng.”

Sau đó là một khoảng im lặng, cho tới khi Bree phá vỡ nó một cách vụng về, ngập ngừng, bằng cách đưa cho Norah miếng bánh phết bơ cuối cùng.

“Chị không đói.” Norah đáp dối.

“Chị phải ăn đi,” Bree ép. “Đằng nào chị chả sụt cân. Đấy là một trong những lợi ích to lớn không được nhắc đến của việc cho con bú đấy nhé.”

“Không là thế nào,” Norah nói. “Em chả nhai nhải suốt còn gì.”

Bree cười lớn. “Chắc vậy quá.”

“Thành thực mà nói,” Norah vừa nói, vừa giơ tay cầm cốc nước lên. “Chị mừng vì có em ở đây.”

“Ôi dào,” Bree nói, vẻ hơi ngượng nghịu. “Em còn ở đâu được nữa?”

Cái đầu Paul nằng nặng âm ấm, mớ tóc dày mềm như tơ của thằng bé cọ nhẹ lên cổ nàng. Norah tự hỏi không biết nó có nhớ đứa em sinh đôi không, nó còn nhớ cái hình hài giờ đã không còn tồn tại trên đời, người bạn đồng hành thân thiết suốt quãng thời gian vô cùng ngắn ngủi trong đời nó hay không? Liệu cảm giác mất mát có theo nó suốt đời? Nàng vuốt nhẹ lên đầu thằng bé, mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, thoáng thấy vầng trăng tròn xa xa đang nhạt dần sau những rặng cây, chỉ còn là một vệt lờ mờ trên nền trời xanh.

* * *

Sau đó, trong khi Paul ngủ, Norah tranh thủ tắm táp tí chút. Nàng đã mặc thử ba bộ đồ khác nhau, nhưng rồi bỏ cả: váy ôm eo, quần bó sát hông. Trước đây người nàng lúc nào cũng thon gọn, nhỏ nhắn và cân đối, nên khi trông thấy thân hình mới xồ xề của mình, nàng vừa sửng sốt lại vừa buồn bực. Cuối cùng, trong cơn tuyệt vọng, nàng đành xỏ tạm bộ áo liền quần bằng vải bông chéo đã cũ dành cho bà bầu rộng thùng thình, mặc dù nàng đã thề sẽ không động đến nó lần thứ hai. Mặc quần áo xong, nàng để nguyên chân trần đi loanh quanh trong nhà, từ phòng này qua phòng khác. Cũng giống như thân hình nàng, những căn phòng đều rối tung, lộn xộn, bừa bộn và hỗn loạn. Những lớp bụi mờ phủ khắp nơi, quần áo vứt vạ vật, còn ga trải giường thì xô lệch ngổn ngang trên những chiếc giường chưa được dọn. Chỉ còn một khoảng sạch duy nhất trên lớp bụi phủ kín chiếc bàn phấn, nơi David đã đặt một bình cắm đầy hoa thủy tiên, mép cánh hoa đã ngả màu nâu; cả những ô cửa sổ cũng mờ bụi. Ngày kia Bree sẽ về và mẹ nàng sẽ đến thăm. Nghĩ đến đó, Norah ngồi phịch xuống mép giường, cảm giác bất lực hoàn toàn, chiếc cà vạt của David vắt lỏng lẻo trên tay. Sự bừa bộn của căn nhà đè nặng lên nàng, như thể mỗi tia nắng cũng kết thành hình thành khối, mang sức nặng của riêng nó. Nàng không còn chút sức lực nào để chống lại nó nữa. Đáng buồn hơn ở chỗ, nàng cũng chẳng thèm quan tâm nữa.

Chuông cửa reo vang. Văng vẳng tiếng chân Bree giậm thình thịch qua các phòng.

Norah nhận ra những giọng nói đó ngay. Một lúc lâu sau đó nàng vẫn ngồi nguyên chỗ cũ, cảm giác kiệt quệ, tự nhủ làm thế nào để nhờ Bree đuổi họ đi. Nhưng những giọng nói cứ vòng lại gần hơn, sát cầu thang rồi lại nhỏ dần khi họ cùng bước vào phòng khách; đó là tổ sinh hoạt tối tại nhà thờ, họ mang theo đủ thứ quà cáp, háo hức được nhìn thấy đứa bé mới chào đời. Hai nhóm bạn của nàng đã đến từ trước, một nhóm từ tổ khâu vá và nhóm kia từ câu lạc bộ sơn vẽ đồ sứ, họ chất đầy đồ ăn thức uống trong tủ lạnh, chuyền tay nhau bế Paul như một chiến lợi phẩm. Norah cũng đã nhiều lần làm điều tương tự với mấy bà mẹ mới sinh con, thế nhưng giờ nàng thực sự sốc khi thấy mình cảm thấy oán giận thay vì biết ơn: sự phiền nhiễu, gánh nặng từ những lá thư cảm ơn, và nàng còn chẳng thèm quan tâm đến những thứ đồ ăn thức uống kia nữa cơ.

Bree đang gọi. Norah bước xuống cầu thang mà không thèm tô son hay thậm chí chỉnh trang lại đầu tóc. Chân nàng vẫn để trần.

“Trông tôi kinh lắm,” nàng tuyên bố đầy vẻ thách thức khi bước vào phòng.

“Ồ, không đâu,” Ruth Starling nói, rồi vỗ vỗ lên chiếc sofa đặt ngay bên cạnh, mặc dù Norah, với một cảm giác thỏa mãn kỳ lạ, có thể cảm thấy những cái liếc mắt kín đáo được trao đổi giữa đám người còn lại. Nàng ngoan ngoãn ngồi xuống, hai chân bắt tréo lại nơi mắt cá, tay khoanh lại trong lòng như hồi bé đi học.

“Paul vừa mới ngủ rồi,” nàng nói. “Tôi sẽ không đánh thức thằng bé dậy đâu.” Giọng nói của nàng đầy giận dữ, vẻ thách thức thực sự.

“Không sao đâu, cháu yêu,” Ruth nói. Bà ta đã gần bảy mươi tuổi, mái tóc bạc trắng mỏng mảnh được tạo kiểu cẩn thận. Ông chồng bà chỉ mới năm mươi đã mất từ năm ngoái. Norah vẫn tự hỏi bà ta đã phải trả giá những gì, đang phải trả giá những gì để duy trì nhan sắc và vẻ ngoài tươi tỉnh như vậy? “Cháu đã phải trải qua bao nhiêu chuyện thế còn gì,” Ruth lại nói.

Norah lại cảm thấy con gái mình đang ở đâu đây, một sự hiện diện nằm ngoài tầm mắt của nàng, và phải cố lắm nàng mới kìm nổi ước muốn mãnh liệt được chạy lên trên gác để nhìn thấy Paul. Tôi đang phát điên đây, nàng tự nhủ, và cắm mắt nhìn xuống sàn nhà.

“Mọi người dùng trà nhé?” Bree hỏi, mặt cố tỏ vẻ tươi tỉnh. Trong khi chưa ai kịp trả lời thì cô đã biến nhanh vào bếp.

Norah phải gắng hết sức mới tập trung vào câu chuyện được: nào là phải dùng vải bông hay vải phin để làm gối cho bệnh viện, mọi người nghĩ sao về linh mục mới về, rồi có nên tặng chăn cho Đội Cứu tế hay không. Sau đó Sally thông báo đêm qua Kay Marshall đã sinh con, một đứa bé gái.

“Ba cân đúng,” Sally nói. “Trông Kay tuyệt lắm. Con bé xinh lắm cơ. Bọn họ đặt tên nó là Elizabeth, theo tên bà ngoại. Họ còn nói ca này đẻ dễ lắm.”

Rồi im lặng bao trùm, khi mọi người nhận thấy điều gì đang xảy ra. Norah có cảm giác sự im lặng bắt nguồn từ đâu đó sâu bên trong nàng và lan tỏa ra cả căn phòng. Sally nhìn lên, mặt đỏ bừng vì hối hận.

“Ôi,” chị ta nói. “Ôi Norah. Chị xin lỗi.”

Norah muốn nói câu gì đó để đưa mọi thứ trở lại bình thường. Những lời cần nói lởn vởn trong đầu nàng, nhưng nàng dường như không cất nổi thành lời. Nàng ngồi im lặng, rồi sự im lặng trở thành một cái hồ, một đại dương, có thể nhấn chìm tất cả bọn họ.

Cuối cùng, Ruth nhanh miệng nói. “Norah à, ta rất tiếc. Chắc cháu mệt lắm rồi phải không.” Bà ta lôi ra một gói lớn bọc giấy màu sặc sỡ, đính hàng chùm ruy băng uốn xoăn tít. “Mọi người mang đến cả một bộ sưu tập nhé, chắc cháu đã có đủ mọi loại ghim cài tã mà một bà mẹ ao ước rồi đấy.”

Cả đám phụ nữ cùng cười ồ nhẹ nhõm. Norah cũng mỉm cười và mở chiếc hộp, xé lớp giấy bọc ngoài: một chiếc ghế tập đi, có khung kim loại và đệm ngồi bọc vải, gần giống với chiếc ghế ở nhà một người bạn mà nàng từng trầm trồ thích thú.

“Tất nhiên phải mấy tháng nữa thằng bé mới dùng ghế này được,” Sally nói. “Chúng tôi không nghĩ ra được gì hay hơn để dành cho cháu tập đi.”

“Còn đây nữa,” Flora Marshall đứng dậy, tay cầm hai gói mềm mềm.

Flora là người lớn tuổi nhất trong nhóm, thậm chí còn hơn tuổi Ruth, nhưng rất dẻo dai và hoạt bát. Bà đã đan chăn cho tất cả trẻ sơ sinh trong nhà thờ. Nghĩ rằng Norah sẽ sinh đôi sau khi ước lượng kích cỡ bụng nàng, bà đã đan tặng hẳn hai tấm chăn, miệt mài làm việc trong suốt buổi sinh hoạt tối và cả giờ nghỉ uống cà phê ở nhà thờ, túi lúc nào cũng đầy ắp những cuộn len mềm màu sắc sặc sỡ. Màu vàng nhạt và xanh lục, xanh lơ và hồng đan xen với nhau – bà vẫn đùa rằng mình không dám cá là sinh đôi trai hay gái. Nhưng sinh đôi, bà chắc chắn thế. Lúc đó, không ai để ý đến lời bà nói.

Norah đỡ lấy hai cái gói, cố nén nước mắt. Chất len mềm quen thuộc rũ xuống bụng khi nàng mở gói đầu tiên, và nàng cảm thấy đứa con gái đã mất dường như ở đâu đó rất gần. Norah thấy lòng tràn ngập niềm biết ơn Flora, bằng kinh nghiệm một người bà, bà thật biết mình phải làm gì. Nàng xé giấy bọc chiếc gói thứ hai, háo hức muốn thấy tấm chăn còn lại, chắc cũng rực rỡ và mềm mại như chiếc đầu tiên.

“Bộ này hơi to một chút,” Flora xin lỗi ngay khi một bộ áo liền quần rơi xuống bụng nàng. “Nhưng không sao đâu, bọn trẻ con tầm tuổi này lớn nhanh như thổi ấy mà.”

“Còn cái chăn kia đâu?” Norah hỏi vặn. Nàng nghe thấy chính giọng nói của mình, gay gắt như tiếng thét của một con chim, và cảm thấy sững sờ; cả đời mình nàng vẫn có tiếng là người điềm tĩnh, nàng vẫn thường tự hào về khí chất nhu hòa và những lựa chọn cẩn trọng của mình. “Cái chăn cô đan cho con gái cháu đâu rồi?”

Flora đỏ bừng mặt và liếc nhìn khắp phòng cầu cứu sự giúp đỡ. Ruth cầm lấy tay Norah siết thật mạnh. Norah cảm nhận thấy làn da mềm mại và sức ép mạnh mẽ đáng kinh ngạc trên từng ngón tay của bà ta. David đã từng nói cho nàng biết tên của mấy đốt xương đó, nhưng nàng không tài nào nhớ nổi. Tệ hơn nữa, nàng đang khóc.

“Nào, nào. Cháu đã có một đứa con trai kháu khỉnh rồi cơ mà,” Ruth dỗ dành.

“Nó có một đứa em gái nữa,” Norah thì thầm, giọng cả quyết, và nhìn vào từng khuôn mặt. Họ đã đến đây vì lòng tốt. Họ rất buồn, phải, vậy mà nàng còn vừa làm cho họ buồn thêm. Chuyện gì đang xảy ra với nàng vậy? Cả đời mình nàng đã cố gắng hết sức để làm những việc đúng đắn cơ mà. “Tên nó là Phoebe. Tôi muốn có ai đó gọi tên nó. Mọi người có nghe tôi nói gì không?” Nàng đứng dậy. “Tôi muốn có ai đó nhớ tên con bé.”

Sau đó một tấm khăn mát được đắp lên trán nàng, rồi những bàn tay giúp nàng nằm xuống sofa. Họ bảo nàng nhắm mắt lại, và nàng làm theo. Nước mắt tuôn rơi lã chã sau làn mi như suối chảy, nàng không tài nào kìm nổi. Mọi người lại bàn tán phải làm thế nào, những tiếng nói xoáy tròn như tuyết bay trong gió. Có người nói, chuyện này chẳng có gì lạ. Ngay cả trong trường hợp khả quan nhất thì tình trạng suy sụp tinh thần đột ngột chỉ vài ngày sau khi sinh cũng không có gì bất thường. Họ phải gọi cho David, một người gợi ý, nhưng rồi Bree xuất hiện, điềm tĩnh và lịch sự, tiễn hết cả đám phụ nữ ra cửa. Khi bọn họ đã về hết, Norah mới mở mắt ra và nhìn thấy Bree đang đeo chiếc tạp dề của nàng, dải dây buộc viền đăng ten dích dắc thắt hờ ôm lấy vòng eo thon gọn.

Tấm chăn của Flora Marshall vẫn nằm vạ vật trên sàn nhà giữa đống giấy gói, nàng nhặt nó lên, luồn ngón tay vào những thớ sợi mềm mại. Norah gạt nước mắt nói.

“David nói tóc con bé màu nâu sẵm. Giống tóc anh ấy.”

Bree nhìn chị chăm chú. “Norah, chị nói chị định tổ chức một buổi lễ tưởng niệm đúng không. Còn chờ gì nữa? Sao không làm ngay bây giờ? Có lẽ nó sẽ an ủi chị được phần nào.”

Norah lắc đầu. “Những gì David nói, những gì mọi người nói đều có lý cả. Có lẽ chị nên tập trung vào đứa con chị đã có.”

Bree nhún vai. “Nhưng chị có làm thế đâu. Chị càng cố không nghĩ đến con bé, chị lại càng nhớ nó nhiều hơn. David chỉ là một bác sĩ,” cô chêm vào. “Anh ấy có biết tất cả mọi thứ đâu. Anh ấy đâu phải là Chúa Trời.”

“Tất nhiên là không,” Norah nói. “Chị biết chứ.”

“Nhiều lúc em không dám chắc chị có biết thật không nữa.”

Norah không đáp lời. Những đường vân gỗ chạy ngoằn ngoèo trên mặt sàn bóng láng, bóng lá khoét những lỗ đen lên nắng. Chiếc đồng hồ trên lò sưởi khẽ kêu tích tắc. Nàng nghĩ mình nên nổi giận mới phải, nhưng không. Ý tưởng về một buổi lễ tưởng niệm dường như đã giúp nàng thoát khỏi tình trạng kiệt quệ, nó nảy sinh trong đầu nàng ngay từ lúc còn đứng trên những bậc tam cấp nơi phòng khám và cho tới tận giây phút này vẫn chưa biến mất.

“Có lẽ em nói đúng,” nàng nói. “Chị không biết. Có lẽ vậy. Một buổi lễ nhỏ thôi. Thật kín đáo nữa.”

Bree đưa nàng chiếc điện thoại. “Đây. Chị cứ hỏi đi.”

Norah hít một hơi thật sâu và bắt đầu. Trước tiên nàng gọi cho vị linh mục mới đến và bỗng thấy mình đang giải thích rằng nàng muốn tổ chức một buổi lễ, vâng, và tổ chức ngoài trời, ở sân nhà thờ. Vâng, nắng hay mưa cũng không sao. Cho Phoebe, con gái tôi, con bé chết ngay khi mới sinh. Hai tiếng tiếp đó, ngần ấy từ ngữ lại được nàng nhắc đi nhắc lại: với người bán hoa, với người phụ nữ phụ trách mục rao vặt trên tờ The Leader, với các bạn nàng ở tổ khâu, họ đã nhận làm hoa cho buổi lễ. Mỗi lần như vậy, cảm giác bình yên trong nàng lại lớn dần lên, giống như sự giải thoát khi Paul ngậm lấy đầu vú mẹ bú lấy bú để, kéo nàng trở lại với thực tại.

Bree đã đi học, còn Norah đi bộ quanh căn nhà tĩnh mịch, giữa khung cảnh hỗn độn. Trong phòng ngủ, ánh nắng chiều xuyên qua cửa kính, phơi bày mọi sự bất cẩn lơ đễnh. Nàng đã chứng kiến cảnh bừa bộn này hàng ngày mà không mảy may bận tâm, nhưng giờ đây, lần đầu tiên sau khi sinh, nàng cảm thấy tràn trề sức lực thay vì uể oải. Nàng trải lại ga giường cho thật phẳng phiu, mở rộng cửa sổ, quét sạch bụi bặm. Vĩnh biệt bộ áo liền quần vải bông dành cho bà bầu. Nàng lục tung tủ quần áo cho tới khi tìm thấy một chiếc váy còn vừa vặn và một cái áo sơ mi không bó sát ngực quá. Nàng cau mày khi thấy mình trong gương, trông nàng vẫn xồ xề, thô kệch quá, nhưng tâm trạng thì đã khá hơn. Nàng cũng dành thời gian chỉnh trang lại mái tóc, chải đi vuốt lại hàng trăm lần. Khi chải xong, chiếc lược đã mắc đầy tóc, cuộn lại thành một túm dày những sợi vàng óng, vẻ mơn mởn của thời kỳ thai nghén giờ đã biến mất khi lượng hormone trong người nàng trở lại bình thường. Nàng biết điều này sẽ xảy ra. Nhưng sự mất mát ấy vẫn khiến nàng muốn khóc.

Đủ rồi, nàng tự nói với bản thân bằng giọng cứng cỏi, rồi tô son lên môi, chớp mắt cho lệ rơi hết. Đủ rồi, Norah Asher Henry.

Nàng khoác thêm chiếc áo len trước khi đi xuống tầng một và tìm thấy cả đôi giày đế bệt màu be của mình. Ít nhất thì đôi chân nàng đã trở lại nhỏ nhắn như xưa.

Nàng ghé qua thăm Paul – thằng bé vẫn ngủ say, hơi thở của nó thật khẽ nhưng nàng vẫn cảm thấy trên từng đầu ngón tay – sau đó nàng bỏ món thịt hầm đông lạnh vào lò, bày bàn ăn và mở một chai rượu. Nàng đang dở tay thay lọ hoa, tay vẫn cầm mấy thân hoa héo đã mềm oặt lạnh ngắt thì cửa bật mở. Tim nàng đập gấp hơn khi tiếng chân của David dội lại gần, và một lúc sau anh đã đứng nơi ngưỡng cửa, bộ comple xộc xệch trên thân người gầy gò, khuôn mặt đỏ bừng vì cuốc đi bộ. Anh đang rất mệt, nhưng nàng thấy anh có vẻ nhẹ nhõm khi nhìn thấy căn nhà sạch sẽ, kiểu ăn mặc quen thuộc của nàng và mùi thức ăn đang nấu trên bếp thơm sực. Trên tay anh là một bó thủy tiên nữa, vừa mới hái trong vườn. Khi nàng hôn anh, làn môi của anh áp vào môi nàng lành lạnh.

“Chào em,” anh nói. “Xem ra em đã có một ngày tốt lành đấy nhỉ.”

“Vâng. Tốt anh ạ.” Suýt nữa thì nàng đã kể với anh những gì đã làm, nhưng thay vào đó nàng pha cho anh một cốc rượu: whisky nguyên chất, theo đúng sở thích của anh. Anh tựa người vào quầy bếp trong khi nàng rửa rau diếp. “Thế còn anh?” Nàng tắt vòi nước hỏi chồng.

“Không tệ lắm,” anh trả lời. “Bận. Anh xin lỗi chuyện tối qua nhé. Có một bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim. Cũng may là không sao cả.”

“Có bị chấn thương xương nữa không?” nàng lại hỏi.

“Ờ. Có, ông ấy bị ngã cầu thang. Gãy xương ống chân. Con vẫn ngủ hả em?”

Norah liếc đồng hồ thở dài. “Chắc em phải đánh thức con dậy rồi,” nàng nói. “Em tính cho nó ăn ngủ đúng giờ giấc mà.”

“Để anh,” David nói rồi cầm bó hoa đi lên gác. Nàng nghe thấy tiếng anh bước đi trên tầng và mường tượng ra cảnh anh nghiêng người xuống để vuốt nhẹ lên trán Paul, cầm lấy bàn tay nhỏ xíu của nó. Nhưng chỉ vài phút sau David đã đi xuống một mình, anh đã thay chiếc quần jean và mặc áo len. “Con ngủ ngoan quá,” David phân trần. “Mình cứ để nó ngủ đi em ạ.”

Họ đi vào phòng khách và cùng nhau ngồi xuống sofa. Trong phút chốc mọi thứ bỗng trở lại như xưa, chỉ có hai người, và thế giới xung quanh họ vẫn còn là một nơi giản dị đầy hứa hẹn. Norah định đến bữa ăn sẽ kể cho David nghe về kế hoạch của nàng, nhưng lúc này, nàng bỗng thấy mình đang giải thích với anh về buổi lễ đơn giản mà nàng đã chuẩn bị, mẩu thông báo mà nàng đã đặt đăng. Càng nói nàng càng cảm thấy David nhìn mình chăm chú hơn, cái nhìn ẩn chứa vẻ gì đó như cảm giác bị tổn thương nặng nề. Nét mặt anh khiến nàng thoáng do dự; như thể anh đang bị lột mặt nạ và nàng đang nói chuyện với một kẻ xa lạ không thể lường trước phản ứng. Đôi mắt anh tối sầm lại, nàng chưa bao giờ nhìn thấy cảnh tượng đó, và cũng không thể đoán nổi anh đang nghĩ gì trong đầu.

“Anh không thích chuyện này,” nàng nói.

“Không phải thế.”

Nàng lại nhìn thấy nỗi đau trong mắt anh; nghe thấy nỗi đau trong giọng nói của anh. Vì khao khát muốn xoa dịu chồng, nàng suýt nữa rút lại tất cả, nhưng nàng bỗng cảm thấy sự ỳ trệ mà nàng đã thu hết nỗ lực để gạt sang một bên lại lởn vởn đâu đó trong phòng.

“Nó sẽ giúp em vượt qua nỗi đau,” nàng nói. “Chuyện đó không có gì sai trái cả.”

“Không,” anh nói. “Nó không có gì sai trái cả.”

Dường như anh định nói thêm, nhưng rồi anh tự kìm mình lại và thay vào đó, anh đứng lên, bước ra phía cửa sổ và nhìn chằm chằm vào bóng tối nơi công viên bên kia phố. “Nhưng chết tiệt thật, Norah.” Anh nói, giọng trầm đục và dằn gắt, thứ giọng anh chưa từng nói bao giờ. Cơn thịnh nộ ẩn dưới từng câu từng lời khiến nàng khiếp đảm. “Sao em cứ phải ngoan cố như vậy? Ít nhất thì em cũng phải nói với anh một tiếng trước khi gọi cho báo chí chứ?”

“Nó chết rồi,” Norah kêu lên, giờ thì chính nàng cũng giận điên người. “Có gì là đáng xấu hổ nào. Chẳng có lý gì phải giấu giếm chuyện đấy cả.”

Vai David cứng đờ, anh vẫn không quay lại. Một người lạ mặt, chiếc áo khoác màu san hô vắt trên tay trong trung tâm mua sắm WolfWile, anh ta có vẻ gì thân quen một cách kỳ lạ, giống như một người nàng đã rất thân thiết nhưng chưa gặp lại nhiều năm trời. Vậy mà giờ đây, một năm sau ngày cưới, dường như nàng chẳng biết tí gì về anh cả.

“David,” nàng nói, “chuyện gì đang xảy ra với chúng ta vậy?”

Anh không quay lại. Mùi thịt và khoai tây thơm ngào ngạt tràn ngập căn phòng; nàng sực nhớ bữa tối vẫn đang hâm lại trong lò, và bụng nàng sôi lên vì cơn đói nàng đã cố tình lờ đi suốt ngày hôm nay. Trên gác, Paul bắt đầu khóc, nhưng nàng vẫn ngồi yên tại chỗ, chờ đợi câu trả lời của anh.

“Chẳng có chuyện gì xảy ra với chúng ta cả,” cuối cùng anh cũng lên tiếng. Khi anh quay lại, nỗi đau vẫn còn hiển hiện sống động trong đôi mắt anh và còn điều gì khác nữa – giống như sự cương quyết – mà nàng không tài nào hiểu được. “Em đang đem chuyện bé xé ra to đấy Norah,” anh nói. “Anh nghĩ chuyện đó cũng dễ hiểu thôi.”

Lạnh lùng. Thô bạo. Kẻ cả. Paul lại càng khóc dữ hơn. Sức ép của cơn thịnh nộ khiến Norah quay cuồng, nàng chạy ào lên gác, bế thằng bé lên và thay tã cho nó, thật nhẹ nhàng, nhẹ nhàng, mỗi động tác của nàng đều run lẩy bẩy vì căm giận. Rồi nàng ngồi xuống chiếc ghế đu, cởi nút áo, và cảm giác xoa dịu ùa đến. Nàng nhắm mắt lại. Dưới tầng một, David bước quanh các phòng. Ít nhất thì anh đã được chạm vào con gái họ, đã nhìn thấy khuôn mặt con bé.

Nàng sẽ tổ chức buổi lễ, bằng mọi giá. Nàng sẽ làm chỉ vì mình mà thôi.

Từ từ, từ từ, khi Paul đã bú no, ánh sáng đã nhạt dần, nàng dần dần bình tĩnh trở lại, lại biến thành dòng sông xanh bình lặng, sẵn lòng đón nhận thế giới và dễ dàng mang nó trôi theo dòng chảy của mình. Bên ngoài, từng đám cỏ đâm lên chậm rãi và lặng lẽ; những búi trứng nhện bắt đầu nứt vỏ; những cánh chim đập mải miết. Thật thiêng liêng, nàng tự nhủ, cảm thấy như được kết nối với tất cả mọi sinh linh đang sống và từng sống qua đứa trẻ mình bế trên tay và cả đứa trẻ đang nằm dưới ba tấc đất. Một lúc lâu sau nàng mới mở mắt, chợt sững sờ bởi bóng tối và vẻ đẹp quanh mình: một vệt sáng nhỏ phản chiếu qua nắm đấm cửa, hắt lên thành một cái bóng rung rinh trên tường. Tấm chăn mới của Paul, được đan với bao yêu thương trìu mến, vắt trên thành cũi rủ xuống như sóng dợn. Và trên bàn phấn là lọ thủy tiên David vừa mới cắm, cánh mỏng manh như làn da và gần như phát quang trong bóng tối, thu hết ánh sáng hắt lên từ dưới sảnh.

—————-

[6] Nguyên văn “I wake to sleep”. Câu thơ trích trong bài thơ The waking của nhà thơ người Mỹ Theodore Huebner Roethke (1908 -1963). Ông được trao giải Pulitzer dành cho thơ vào năm 1954 cho tập thơ cùng tên.

[7] Virgina Wolf (1882-1941): tiểu thuyết gia, nhà phê bình và nhà văn tiểu luận người Anh, bà được coi là một trong những nhân vật văn học hiện đại lừng danh nhất thế kỷ 20

Chương 4
 

K

HI TIẾNG NÓI CỦA CÔ TAN BIẾN TRÊN BÃI ĐỖ XE VẮNG TANH, Caroline sập cửa xe và lội qua lớp tuyết bẩn. Nhưng chỉ mới đi được vài bước, cô đã dừng chân và quay lại với đứa bé. Tiếng khóc yếu ớt của Phoebe văng vẳng trong đêm tối, thôi thúc Caroline bước qua con đường nhựa, qua khoảng sáng trống trải rộng lớn, đến trước cánh cửa tự động của cửa hàng bách hóa. Cửa khóa. Caroline gào thét và gõ cửa liên hồi, tiếng hét của cô hòa lẫn trong tiếng khóc của Phoebe. Bên trong, những hành lang dài thắp đèn sáng rực đều vắng vẻ. Một cái xô bỏ đi đứng gần đó, những lon đồ hộp sáng lấp lánh trong câm lặng. Trong vài phút Caroline chỉ đứng yên, lắng nghe tiếng Phoebe khóc và tiếng gió luồn qua những rặng cây xa xa. Sau rồi cô thu hết quyết tâm và vòng ra sau cửa hàng. Cánh cửa cuốn kim loại chỗ bãi dỡ hàng cũng đóng im ỉm, nhưng cô vẫn dấn bước tới, xung quanh cô xông lên mùi thực phẩm thối rữa trên nền bê tông lạnh băng và trơn nhẫy do tuyết tan. Cô đá thật mạnh lên cánh cửa, thỏa mãn trước âm thanh chát chúa mà cú đá tạo ra, cô đá mãi, đá mãi cho tới khi thở không ra hơi.

“Cô này, nếu họ vẫn còn ở trong đó, chuyện này tôi chẳng dám chắc, thì họ cũng chưa mở cửa ngay đâu.”

Giọng một người đàn ông. Caroline quay lại và nhìn thấy anh ta đang đứng phía dưới cô, trên con dốc cho xe kéo moóc lùi vào bãi dỡ hàng. Ngay cả ở khoảng cách này cô cũng ước chừng được anh ta là một người rất cao lớn. Anh ta khoác một chiếc áo to sù và đội mũ len đan. Đôi tay đút sâu trong túi áo.

“Con tôi đang khóc,” cô nói, mặc dù chẳng cần thiết. “Xe tôi bị chết ắc quy. Có một chiếc điện thoại ở ngay sau cửa trước, nhưng tôi không với tới được.”

“Con cô mấy tuổi rồi?” người đàn ông cất tiếng hỏi.

“Mới sinh thôi,” Caroline trả lời, cô hầu như không nghĩ nổi điều gì, giọng cô đã gần như lạc đi trong nước mắt và sợ hãi. Thật nực cười, cái ý tưởng mà cô không ngớt nguyền rủa, thì đây, cô đang trong cảnh ấy đấy thôi – người đẹp lâm nạn.

loading...

“Giờ là tối thứ Bảy,” người đàn ông nhìn cô, giọng nói của anh ta vang xa trong không gian đầy tuyết giữa hai người. Bên ngoài bãi đỗ xe, phố xá yên lặng như tờ. “Tất cả ga ra trong thành phố đều đóng cửa cả rồi.”

Caroline không đáp lại.

“Này cô,” anh ta cất giọng chậm rãi, chất giọng chắc chắn nghe có vẻ đáng tin cậy. Caroline chợt nhận ra anh ta đang cố tỏ ra điềm tĩnh, dịu dàng; có lẽ anh ta nghĩ cô bị điên cũng nên. “Tôi lỡ để quên dây cáp kéo ở chỗ một lái xe tải tuần trước rồi, nên tôi không kéo xe giúp cô được. Nhưng như cô vừa nói đấy, ngoài này rất lạnh. Tôi đang nghĩ, sao cô không vào ngồi cùng tôi trong buồng lái? Trong đó ấm lắm. Tôi vừa chở một kiện sữa tới vài giờ trước, tôi còn đang chờ xem tình hình thời tiết ra sao. Ý tôi là cô cứ thoải mái, cô ạ. Cô cứ vào xe ngồi cùng tôi. Tôi sẽ để cô chút thời gian suy nghĩ cho kỹ nhé.” Thấy Caroline không trả lời ngay, anh ta bèn đế thêm, “Ý tôi là cả cô và con cô.”

Caroline nhìn sang bãi đỗ xe, tới tận cuối bãi, nơi một chiếc xe tải chở hàng với cái đầu kéo đen sì sáng bóng đứng im lìm. Cô đã trông thấy nó trước đó nhưng chẳng hề để ý. Một cái thùng xe màu bạc xỉn dài ngoẵng, sự hiện diện của nó như một tòa nhà bên rìa thế giới vậy. Trong tay cô, Phoebe hổn hển lấy lại hơi và bắt đầu khóc.

“Thôi được,” Caroline quyết định. “Lúc này thì sao cũng được.” Rồi cô cẩn thận bước qua chỗ hành giập nát. Khi cô tới bờ dốc, anh ta đã đứng chờ sẵn, một tay giơ lên để giúp cô bước xuống. Cô vịn lấy cánh tay anh ta, dù hơi khó chịu nhưng cũng thầm biết ơn, vì biết rằng dưới đống rau củ đang thối rữa và tuyết là lớp băng. Cô ngước lên nhìn mặt anh ta, hàm râu rậm, chiếc mũ lưỡi trai kéo sụp xuống tận chân mày, và dưới cặp lông mày, là một đôi mắt nâu sẫm: một đôi mắt nhân hậu. Thật nực cười, cô tự nhủ, khi họ cùng đi qua bãi đỗ xe. Điên rồ. Xuẩn ngốc nữa chứ. Anh ta có thể là một tên sát nhân bằng rìu lắm chứ. Nhưng sự thật là cô đã quá mệt để bận tâm đến chuyện đó.

Anh ta giúp cô nhặt nhạnh vài thứ trong xe rồi yên vị trong buồng lái, anh ta bế Phoebe trong khi Caroline trèo lên chiếc ghế ngồi cao ngất ngưởng, rồi chuyền Phoebe cho cô. Caroline rót ít sữa trong phích vào bình. Phoebe đã mệt lả đi, đến nỗi phải mất một lúc sau con bé mới nhận ra hơi sữa, ngay cả khi ấy nó vẫn phải trằn người lên để bú. Caroline vuốt nhẹ lên má con bé, cuối cùng nó cũng ngậm lấy núm vú và bắt đầu bú.

“Lạ quá phải không,” người đàn ông cất lời khi con bé đã nín. Anh ta đã trèo lên ghế tài xế. Tiếng động cơ kêu rì rì trong bóng đêm, thật dễ chịu, như tiếng một con mèo khổng lồ, và thế giới trải rộng ra mãi tận chân trời tối tăm. “Ý tôi là những trận tuyết kiểu này ở Lexington ấy.”

“Cứ vài năm lại có một lần như thế,” cô trả lời. “Anh không phải là người ở đây đúng không?”

“Arkon, Ohio,” anh ta đáp. “Nguyên quán thôi. Còn suốt năm năm nay tôi chỉ rong ruổi trên đường. Dạo này tôi thích coi mình như dân giang hồ ấy.”

“Anh không thấy cô đơn sao?” Caroline hỏi, cô chợt nghĩ tới những đêm cô ngồi một mình trong căn hộ. Cô không thể tin rằng mình lại ở đây, đang nói chuyện với một người xa lạ thân mật đến thế. Cảm giác vừa mới lạ lại vừa hồi hộp, như thể ta đang đặt hết niềm tin của mình vào một người mới quen trên tàu điện hay xe bus.

“Ờ thì, cũng đôi khi,” anh ta thừa nhận. “Công việc này rất cô đơn, chắc chắn rồi. Nhưng tôi cũng thường hay gặp được ai đó một cách rất tình cờ. Như đêm nay chẳng hạn.”

Trong buồng lái thật ấm áp, và Caroline thấy mình ngày càng quen dần với cái không khí ấy, cô ngả lưng xuống chiếc ghế ngồi êm ái cao ngất ngưởng. Tuyết vẫn vần vũ trên những cột đèn đường. Chiếc xe của cô nằm giữa bãi đỗ, một khối màu đen thẫm trơ trọi phủ đầy bông tuyết.

“Cô đang định đi đâu?” anh ta hỏi cô.

“Tới Lexington thôi. Vài giờ trước có một vụ tai nạn trên đường cao tốc liên bang cách đây có vài dặm đường. Tôi cứ nghĩ mình sẽ tiết kiệm thêm chút thời gian và tránh được phiền toái cơ đấy.”

Khuôn mặt anh ra hơi sáng lên dưới ánh đèn đường, anh ta mỉm cười. Bất ngờ, Caroline cười theo và rồi cả hai cùng cười vang.

“Kế hoạch tối ưu,” anh ta nói.

Caroline gật đầu.

“Cô này,” sau một hồi im lặng, anh ta mới nói. “Nếu cô chỉ tới Lexington thì tôi có thể cho cô đi nhờ. Tôi cũng có thể đậu xe tải ở đó như nơi này. Ngày mai – ừm, ngày mai là Chủ nhật, đúng không? Nhưng sang đến thứ Hai, trước tiên cô có thể gọi dịch vụ trục kéo để xử lý chiếc xe của cô. Để xe ở đây an toàn lắm, chắc chắn đấy.”

Ánh sáng hắt từ cột đèn đường chiếu xiên qua khuôn mặt bé xíu của Phoebe. Anh ta giơ tay ra và vuốt lên trán con bé thật dịu dàng bằng bàn tay to bè của mình. Caroline thích sự ngập ngừng, vẻ điềm tĩnh của anh ta.

“Vậy cũng được,” cô quyết định. “Nếu như thế không phiền đến anh.”

“Ôi trời, không đâu,” anh ta nói. “Khỉ ạ, không. Thứ lỗi cho tôi đã lỡ lời nhé. Lexington ở ngay trên đường tôi đi thôi mà.”

Anh ta gom hết đồ đạc còn lại trong xe cô, vài bịch thức ăn và mấy tấm chăn. Tên anh là Al, Albert Simpson. Mò mẫm một hồi dưới sàn, anh ta tìm thấy thêm một chiếc cốc dưới ghế ngồi. Anh ta lấy khăn mùi soa lau chùi nó thật kỹ rồi mới rót cà phê trong phích ra đưa cho cô. Cô uống cà phê, thấy vui vui vì cà phê rất đặc, vui vì không khí ấm áp và vì có một người bạn đồng hành dù anh không biết chút gì về cô. Cô cảm thấy an toàn và hạnh phúc kỳ lạ, mặc dù trong xe xông lên mùi ẩm mốc và mùi tất bẩn, cùng với một đứa bé không phải con cô lại đang nằm ngủ trong lòng cô. Vừa lái xe, Al vừa nói đủ thứ chuyện, về cuộc đời rong ruổi trên khắp các tuyến đường của anh, xe chỉ dừng những lúc anh cần tắm rửa, cứ như thế từng dặm đường trôi qua dưới bánh xe, hết đêm này sang đêm khác.

Bị ru ngủ bởi tiếng bánh xe rì rì, bởi không khí ấm áp và những bông tuyết không ngừng táp vào đèn pha, Caroline mơ màng trôi vào giấc ngủ. Khi họ vòng vào bãi đỗ xe trong khu chung cư nơi cô sống, chiếc xe tải chiếm trọn năm ô đỗ. Al ra khỏi xe trước để giúp cô xuống xe và bỏ mặc chiếc xe tải nằm đấy để bê mấy món đồ đạc của cô lên cầu thang phía ngoài. Caroline lẽo đẽo đi theo, tay bế Phoebe. Tấm rèm buông trên một ô cửa sổ phía dưới chợt hé ra tích tắc – Lucy Martin lại dòm dỏ như mọi ngày – Caroline đứng khựng lại, trong một giây cô bỗng thấy đầu óc quay cuồng. Bởi tuy mọi thứ vẫn giữ nguyên như cũ, nhưng chắc chắn cô không còn là người phụ nữ đã rời đây nửa đêm hôm trước, người đã lội bộ qua tuyết để tới được chiếc xe của mình. Chắc chắn cô đã bị biến đổi hoàn toàn, nhiều đến mức lẽ ra cô nên bước vào những căn phòng khác, đứng dưới thứ ánh sáng khác kia. Thế nhưng chiếc chìa khóa quen thuộc của cô vẫn trượt vào và nằm gọn trong ổ khóa thân quen. Khi cánh cửa mở ra, cô bế Phoebe vào căn phòng cô đã thuộc nằm lòng từng tiểu tiết: tấm thảm màu nâu sẫm dày dặn, chiếc sofa bọc vải kẻ ca rô và chiếc ghế bành cô mua trong một đợt giảm giá, chiếc bàn uống cà phê mặt kính, quyển tiểu thuyết cô hay đọc trước khi đi ngủ – Tội ác và trừng phạt – đã được đánh dấu trang cẩn thận. Cô đã ngủ quên đúng đoạn Raskolnikov thú nhận mọi chuyện với Sonya, mơ thấy họ trong căn gác lạnh lẽo và sau đó bị đánh thức bởi tiếng chuông điện thoại và cơn mưa tuyết ngập tràn phố xá.

Al lúng túng bước vào, người đứng chắn hết cửa. Anh ta có thể là một tay giết người hàng loạt, hay tội phạm cưỡng dâm, hay một tay lừa đảo tráo trở lắm chứ. Anh ta có thể là bất cứ hạng người nào.

“Tôi có một cái giường sofa đấy,” cô nói. “Tối nay anh có thể sử dụng tùy ý.”

Sau một phút phân vân, anh ta bước hẳn vào trong.

“Còn chồng cô thì sao?” anh ta nhìn quanh hỏi.

“Tôi chẳng có chồng nào cả,” cô đáp, và ngay lập tức nhận ra sai lầm của mình. “Không có nữa thôi.”

Anh ta cứ đứng yên nhìn cô, chiếc mũ len cầm tay, những lọn tóc xoăn đen kỳ lạ thò ra lởm chởm trên đầu. Cô cảm thấy uể oải, nhưng vẫn bị kích thích bởi cốc cà phê vừa uống và sự mệt mỏi của bản thân, cô bỗng tự hỏi không hiểu trong mắt anh ta trông mình ra sao – bộ đồng phục y tá vẫn mặc trên người, mái tóc nhiều giờ qua chưa được chải chuốt, áo khoác không cài nút, lại thêm đứa bé trên tay cô, đôi tay rã rời.

“Tôi không muốn gây phiền toái cho cô,” anh ta nói.

“Phiền toái?” cô kêu lên. “Không có anh thì giờ tôi vẫn còn đang loay hoay ở bãi đỗ xe kia.”

Nghe vậy anh ta toét miệng cười, sau đó quay lại chỗ chiếc xe tải, và chỉ vài phút sau đã quay lại với một túi vải bạt nhỏ màu lục sẫm.

“Có ai đó đang theo dõi chúng ta từ cửa sổ tầng dưới ấy. Cô có chắc tôi sẽ không gây phiền toái gì cho cô không?”

“Lucy Martin đấy mà,” Caroline đáp. Phoebe lại quấy, cô bỏ bình sữa ra khỏi bình ủ, nhỏ ít sữa ra cánh tay để thử rồi cô ngồi xuống. “Cô ta buôn chuyện nhiều phát sợ đi được ấy. Tin tôi đi. Anh thật sự làm cô ta khoái chí đấy.”

Phoebe không chịu bú sữa, thêm nữa, nó bắt đầu quấy khóc, Caroline bèn đứng dậy, đi đi lại lại quanh phòng, vừa đi vừa ru khe khẽ. Trong khi đó, Al bắt tay vào việc ngay lập tức. Chỉ loáng một cái anh ta đã kéo chiếc giường sofa ra và trải chăn nệm chỉn chu, các mép chăn gập rất gọn đúng kiểu nhà binh. Cuối cùng Phoebe cũng thôi khóc, Caroline gật đầu với anh ta và thì thầm chúc ngủ ngon. Cô đóng cửa thật chặt cánh cửa phòng ngủ. Cô nghĩ một người như Al hẳn sẽ nhận ra sự thiếu vắng của một chiếc nôi trẻ em.

Trên đường đi Caroline đã trù tính mọi việc kỹ lưỡng, giờ cô bỏ một chiếc ngăn kéo bàn trang điểm ra, đổ hết những món đồ được xếp ngăn nắp trong đó thành một đống lên sàn nhà. Xong xuôi cô gấp hai cái khăn tắm làm lớp lót, gài xung quanh một tấm vài gấp, rồi đặt Phoebe vào giữa lớp chăn nệm. Khi cô leo lên giường, một cảm giác mệt nhọc cuốn lấy cô như sóng lũ, cô chìm vào giấc ngủ ngay tức khắc, một giấc ngủ mê mệt không mộng mị. Cô không hề nghe thấy tiếng ngáy như sấm của Al vọng vào từ phòng khách, tiếng máy xúc tuyết chạy rầm rầm dưới bãi đỗ xe, cả tiếng lạch cạch của xe chở rác đi qua phố. Nhưng khi Phoebe khóc, một lúc nào đó quãng nửa đêm, Caroline đã bật dậy chỉ trong tích tắc. Cô mò mẫm trong bóng tối mà như bơi trong nước, mệt mỏi nhưng có chủ đích: cô thay tã cho Phoebe, ủ ấm bình sữa, dồn hết tâm sức vào đứa bé trong tay mình và những nhiệm vụ trước mắt – cực kỳ cấp thiết, cự kỳ tốn thì giờ và không thể không làm – những nhiệm vụ mà giờ chỉ mình cô có thể hoàn thành, những nhiệm vụ không thể trì hoãn một giây phút nào.

* * *

Caroline tỉnh dậy trong ánh sáng chói chang với mùi trứng và thịt muối thơm ngào ngạt. Cô vùng dậy, xỏ tạm chiếc áo choàng và cúi xuống chạm vào bầu má êm mượt của con bé. Sau đó cô đi xuống bếp, thấy Al đang phết bơ lên bánh mì.

“A, chào cô,” anh ta ngước lên. Mái tóc của anh đã được chải chuốt nhưng vẫn còn hơi bờm xờm. Sau đầu anh ta lộ ra một đốm hói nhỏ, quanh cổ lủng lẳng một sợi dây chuyền có mặt trái tim. “Hy vọng cô không khó chịu vì sự tùy tiện của tôi. Hôm qua tôi còn chưa kịp ăn tối.”

“Thơm quá,” Caroline nói. “Tôi cũng đang đói meo đây.”

“À, vậy hả,” vừa nói anh ta vừa đưa cô một tách cà phê. “May mà tôi làm nhiều. Cô có căn nhà xinh xắn gọn gàng quá. Đẹp mà lại sạch sẽ nữa.”

“Anh có thích không?” cô hỏi. Cà phê thơm và đậm hơn so với thứ cà phê thường ngày cô vẫn pha. “Tôi đang tính chuyển đi.”

Những lời ấy làm chính cô cũng phải ngạc nhiên, nhưng dường như từng lời nói ra đều là thật. Ánh sáng ban ngày chiếu xiên ngang tấm thảm nâu sẫm và cả trên tay vịn chiếc sofa cô ngồi. Nước chảy nhỏ giọt trên mái hiên phía ngoài. Cô đã dành dụm tiền trong bao năm trời, đã tưởng tượng đến lúc mình sống trong một căn nhà riêng hay dự phần vào một cuộc phiêu lưu mạo hiểm nào đó, và giờ thì cô ngồi đây: một đứa trẻ ngủ trong phòng ngủ của cô, một người lạ mặt ngồi bên chiếc bàn của cô, còn chiếc xe của cô thì kẹt ở Versailles.

“Tôi đang tính chuyển tới sống ở Pittsburgh,” cô lại nói, một lần nữa khiến bản thân ngạc nhiên quá đỗi.

Al lấy chiếc xẻng con lật trứng, rồi xúc ra đĩa. “Pittsburgh hả? Chỗ đó hay lắm. Sao cô lại muốn chuyển đến đấy?”

“À, mẹ tôi có họ hàng thân thích ở đấy,” Caroline đáp, trong khi anh ta đặt mấy đĩa thức ăn lên bàn và ngồi xuống phía đối diện với cô. Dường như chỉ cần một lời nói dối phát ra, thì chẳng còn giới hạn nào cho những câu dối trá tiếp theo nữa.

“Cô biết đấy, tôi muốn nói là tôi rất tiếc,” Al nói. Đôi mắt sẫm của anh ta trông thật nhân hậu. “Vì bất cứ điều gì đã xảy đến với cha của con cô.”

Caroline quên bẵng đi là mình đã bịa ra một ông chồng, vì vậy cô thực sự bất ngờ trước những gì Al nói, chứng tỏ anh ta không tin cô từng có chồng. Anh ta nghĩ cô là mẹ của một đứa con ngoài giá thú, có lẽ vậy. Họ cùng ăn mà không nói năng gì nhiều, chỉ thỉnh thoảng bình phẩm về chuyện thời tiết, chuyện giao thông và nơi Al sắp đến, Nashville, Tennessee.

“Tôi chưa bao giờ tới Nashville,” Caroline đưa đẩy câu chuyện.

“Chưa à? Ồ, thế thì ta cùng lên xe đi, cả cô và bé con của cô luôn,” Al kêu lên. Đó chỉ là câu đùa, nhưng ẩn dưới nó lại là một lời đề nghị. Đó không thực là lời đề nghị dành cho cô, mà là dành cho bà mẹ không có hôn thú, một vai trò cô đang phải gánh chịu. Tuy vậy, trong phút chốc Caroline bỗng mường tượng ra cảnh cô bước khỏi cửa cùng những hòm xiểng chăn màn của mình và không bao giờ còn quay đầu lại nữa.

“Có lẽ để lần sau vậy,” cô đáp, vươn tay ra với lấy bình cà phê. “Tôi vẫn còn vài chuyện phải thu xếp nốt.”

Al gật đầu. “Rồi. Tôi cũng hiểu mấy chuyện đấy lắm.”

“Dù sao cũng cảm ơn anh nhé,” cô nói. “Tôi rất trân trọng lời mời của anh.”

“Vậy là tôi vui rồi,” anh ta đáp vẻ nghiêm trang, rồi đứng dậy rời đi – Caroline đứng bên cửa sổ nhìn anh ta đi bộ ra chỗ đỗ xe, leo mấy bậc trèo vào buồng lái và giơ một tay ra vẫy cô từ khung cửa mở rộng. Cô vẫy tay chào lại, trong lòng vui vui khi thoáng thấy nụ cười của anh ta, thật cởi mở và phóng khoáng, bất ngờ thấy tim mình rộn lên. Trong cô bỗng cồn lên ước muốn chạy theo anh, cô nhớ chiếc giường nhỏ đặt sau buồng lái, nơi thỉnh thoảng anh vẫn ngả lưng, nhớ cách anh vuốt lên trán Phoebe thật dịu dàng. Chắc chắn một người đàn ông sống cuộc đời đơn độc đến thế có thể giữ kín những bí mật của cô, có thể đón nhận những ước mơ và cả nỗi sợ hãi trong cô. Nhưng động cơ đã nổ giòn, khói phun lên từ chiếc ống bạc trên nóc buồng lái, và anh ta cẩn thận lái xe rời bãi đỗ tiến ra con phố vắng lạnh rồi đi xa dần.

* * *

Hai tư giờ sau đó Caroline ngủ và thức theo thời gian biểu của Phoebe, chỉ tỉnh những lúc cần ăn uống. Lạ ở chỗ; cô luôn là người rất quy củ trong chuyện này vì sợ rằng ăn uống tùy tiện là biểu hiện của tính lập dị và sự khép kín, nhưng giờ cô ăn vào những giờ cực kỳ thất thường: cô bốc luôn ngũ cốc lạnh còn đựng trong túi, đứng xúc kem từ hộp giấy ra ăn ngay bên quầy bếp. Dường như khi ấy cô đã rơi vào trạng thái mơ hồ, ở lưng chừng giữa tỉnh và thức, ở đó cô không còn phải lo lắng thái quá về kết quả những quyết định của mình, hay về số phận của đứa trẻ đang nằm ngủ trong ngăn kéo chiếc bàn phấn của cô, hay thậm chí là số phận của chính cô nữa.

Buổi sáng thứ Hai cô thức dậy vừa kịp giờ để báo nghỉ ốm. Cô tiếp tân Ruby Centers là người nhận điện.

“Cậu có ổn không đấy?” cô ta hỏi. “Nghe giọng cậu khiếp quá.”

“Chắc mình bị dính cúm rồi,” Caroline đáp. “Có lẽ mình sẽ nghỉ vài ngày. Ở phòng khám có chuyện gì không?” Cô cố lấy giọng thản nhiên. “Vợ bác sĩ Henry vừa sinh con phải không?”

“Ôi, mình có biết gì đâu,” Ruby nói. Caroline tưởng tượng ra cái cau mày trầm tư của cô ta, quầy tiếp tân đã được lau chùi sạch bong để sẵn sàng cho một ngày làm việc mới, chiếc lọ cắm mấy bông hoa giả để một góc. “Đã có ai đến đâu, nhưng có cả trăm bệnh nhân ở đây rồi ấy. Có vẻ như mọi người bị nhiễm hết bệnh cúm của cô rồi, thưa cô Caroline.”

Caroline vừa gác máy thì ngoài cửa có tiếng gõ. Lucy Martin, không nghi ngờ gì nữa. Caroline chỉ ngạc nhiên là sao giờ này ả mới chịu ló mặt ra.

Lucy mặc một cái váy có in những bông hoa to màu hồng rực rỡ, khoác chiếc tạp dề diềm hồng, và đi đôi dép lê đã mòn xơ mòn xác. Caroline vừa mở cửa, ả bước ngay vào, mang theo nửa ổ bánh nhân chuối bọc trong lớp ni lông.

Ai ai cũng nói Lucy là người có tấm lòng vàng, nhưng chỉ riêng sự hiện diện của ả cũng khiến Caroline sởn gai ốc. Những thứ bánh trái và món ăn nóng hổi do chính tay ả làm chính là tấm giấy thông hành giúp ả tham gia vào bất cứ câu chuyện ngồi lê đôi mách nào: từ chuyện chết chóc hay tai nạn, đến chuyện sinh nở, cưới xin và tang ma. Có điều gì đó không ổn trong vẻ háo hức của ả, thói tọc mạch bệnh hoạn trước những tin tức chả tốt lành gì, vì vậy Caroline thường cố gắng giữ khoảng cách với ả.

“Em nhìn thấy khách của chị rồi nhá,” Lucy vừa nói vừa vỗ lên tay Caroline. “Ối trời! Anh ta trông được đấy chứ? Em không thể chờ đến lúc được nghe tin vui đâu đấy!”

Lucy ngồi xuống chiếc giường sofa giờ đã được gấp lại. Caroline chọn chiếc ghế bành. Cánh cửa phòng ngủ nơi Phoebe đang nằm ngủ vẫn hé mở.

“Chị yêu, chị có ốm không đấy?” Lucy nói. “Tự nhiên em lo quá, tại vì bình thường tầm giờ này chị đã đi làm từ lâu rồi kia.”

Caroline nhìn khuôn mặt háo hức của Lucy, cô biết rằng bất cứ điều gì mình nói ra sẽ nhanh chóng bay đến tai khắp mọi người trong thành phố – rằng chỉ trong hai, hoặc ba ngày nữa, sẽ có người chặn đường cô ở cửa hàng bách hóa hay nhà thờ để gặng hỏi về người lạ mặt đã qua đêm ở nhà cô.

“Người cô thấy đêm qua là em họ tôi đấy.” Caroline nói rất thản nhiên, một lần nữa cô lại cảm thấy kinh ngạc trước thứ năng lực bất ngờ mình vừa khai thác được, bởi những lời nói dối trôi chảy và tự nhiên của chính mình. Nó đến với cô thật dễ dàng, thậm chí cô còn không mảy may chớp mắt.

“Ồ, thế mà em cứ tưởng,” Lucy nói, vẻ hơi thất vọng.

“Tôi biết,” Caroline đáp. Bằng một cú đánh chặn bất ngờ mà về sau cứ mỗi lần nghĩ lại cô vẫn còn thấy ngạc nhiên, cô tiếp lời. “Khổ thân cậu Al. Vợ cậu ấy đang nằm viện.” Cô nghiêng người lại gần hơn, giọng hạ thấp. “Tội lắm, Lucy ạ. Con bé mới hai nhăm tuổi đầu, nhưng thấy họ chẩn đoán có lẽ nó bị u não. Con bé yếu đi nhanh quá, Al phải đưa nó từ dưới Somerset lên đây để gặp chuyên gia. Còn đứa bé này là con của hai vợ chồng nó. Tôi bảo cậu ấy là, Này, cậu phải ở bên vợ chứ, phải túc trực ngày đêm ở bệnh viện ấy. Cứ để con tôi trông cho. Tôi nghĩ vì tôi là y tác nên chắc vợ chồng cậu ấy cũng thấy yên tâm hơn. Tôi hy vọng cô không phiền vì con bé quấy khóc.”

Trong vài phút sau đó Lucy chỉ biết câm lặng vì sững sờ, và Caroline bỗng hiểu cảm giác khoan khoái – thứ quyền năng – sau khi tung một vố bất ngờ đến vậy.

“Ôi trời, khổ thân em họ chị và vợ cậu ấy! Đứa bé được mấy tuổi rồi?”

“Chỉ mới ba tuần tuổi thôi,” Caroline đáp, sau đó, trong lòng phấn khích, cô đứng dậy. “Đợi ở đây nhé.”

Cô vào phòng ngủ và bế Phoebe từ chiếc ngăn kéo bàn trang điểm, cố giữ cho mấy lớp chăn quấn chặt quanh người con bé.

“Con bé xinh không này?” vừa hỏi cô vừa ngồi xuống cạnh Lucy.

“Ôi, xinh thật. Em bé đáng yêu quá đi mất!” Lucy kêu lên, nói rồi cầm lấy bàn tay nhỏ xinh của Phoebe.

Caroline mỉm cười, bất chợt trong lòng trào dâng cảm giác vừa tự hào vừa mãn nguyện. Những đặc điểm cô đã thấy trong phòng sinh – đôi mắt xếch, cái mặt hơi phẳng – đã trở nên quá đỗi thân thương, tới mức cô hầu như chẳng còn để ý nữa. Còn Lucy, với con mắt của dân ngoại đạo, không hề nhận ra những nét ấy. Phoebe cũng giống như mọi đứa trẻ bình thường, nhạy cảm, dễ thương, và hay đòi hỏi.

“Tôi thích ngắm nó lắm,” Caroline thú thật.

“Ôi, bà mẹ tội nghiệp,” Lucy thì thầm. “Liệu cô ấy có sống được không chị?”

“Không ai biết cả,” Caroline trả lời. “Phải chờ thôi.”

“Chắc họ đau khổ lắm,” Lucy nói.

“Ừ, họ buồn lắm. Thậm chí chẳng thèm ăn uống gì nữa kia.” Caroline giãi bày, tiện thể lái chủ đề sang món ăn thơm ngon mới ra lò do Lucy tự tay làm.

* * *

Trong hai ngày tiếp đó, Caroline không hề bước chân ra khỏi nhà. Cô chỉ tiếp xúc với thế giới qua báo chí, người đưa thực phẩm, người giao sữa, tiếng xe cộ. Thời tiết dần thay đổi, tuyết đã tan, cũng đột ngột như khi đổ xuống, chảy dọc theo gờ tường các tòa nhà rồi thoát xuống cống. Với Caroline, những ngày đã qua cũng phai nhạt dần, chỉ còn là một chuỗi hình ảnh ấn tượng và rời rạc: hình dáng chiếc Ford Fairlane của cô, ắc quy được nạp đầy lại, rồi được đưa vào bãi đỗ; ánh nắng xuyên qua ô cửa sổ mờ bụi; hơi đất ẩm mốc phảng phất; một con chim cổ đỏ đậu trên máng ăn. Cô luôn bị ám ảnh bởi những lo toan, nhưng thường những lúc ngồi bế Phoebe, cô ngạc nhiên khi thấy lòng mình hoàn toàn thư thái. Những gì cô nói với Lucy Martin là thật: cô thích ngắm đứa bé này. Cô thích ngồi dưới ánh nắng và bế nó trong tay. Cô tự dặn mình không được yêu Phoebe; rằng cô chỉ là bến đỗ tạm thời cho nó thôi. Khi ở phòng khám Caroline đã ngắm nhìn David Henry đủ nhiều nên cô hoàn toàn tin rằng anh là người đầy lòng trắc ẩn. Đêm ấy, khi anh ngẩng đầu lên khỏi chiếc bàn giấy, mắt chạm mắt với cô, cô đã thấy trong ánh mắt ấy lòng nhân hậu vô bờ bến. Cô tin chắc rằng một khi cú sốc đã qua đi, anh sẽ có quyết định đúng đắn.

Cứ mỗi lần chuông điện thoại reo cô lại thoáng giật mình. Nhưng ba ngày trôi qua mà chẳng có lời nào từ anh.

Buổi sáng thứ Năm, ngoài cửa có tiếng gõ. Caroline vội vàng chỉnh lại thắt lưng chiếc váy đang mặc, vuốt sơ mái tóc rồi chạy ra mở cửa. Nhưng hóa ra chỉ là một nhân viên vận chuyển, anh ta cầm một lẵng đầy hoa: đám hoa baby đỏ thẫm xen lẫn phớt hồng. Hoa Al gửi. Trên chiếc card anh ghi mấy dòng này: Cám ơn cô vì sự mến khách. Có lẽ tôi sẽ được gặp lại cô vào chuyến xe sau.

Caroline ôm hoa vào nhà và bày lên bàn cà phê. Trong cơn phấn khích, cô cầm tờ The Leader lên, đã mấy ngày nay cô chưa động vào nó; cô tháo sợi chun cao su, rồi liếc qua mấy bài viết, không thực để tâm đến một bài nào. Tình hình căng thẳng ngày càng gia tăng ở Việt Nam, rồi các bài báo ở mục xã hội về chuyện tuần qua ai vừa vui vẻ với ai, rồi trang hình các phụ nữ trong vùng diện mốt mũ mới cho mùa xuân. Caroline vừa định quẳng tờ báo xuống thì một ô vuông viền đen đập vào mắt cô.

Lễ tưởng niệm

Dành cho con gái thân yêu của chúng tôi

Phoebe Grace Henry

Sinh và mất ngày mồng 6 tháng Ba năm 1964

Tổ chức tại Nhà thờ Lexington

Vào hồi 9.00, thứ Sáu, ngày 13 tháng Ba năm 1964.

Caroline chậm chạp ngồi xuống. Cô đọc đi đọc lại bản thông báo. Thậm chí cô còn sờ lên từng dòng chữ, như thể làm như thế có thể khiến chúng trở nên rõ ràng, dễ hiểu hơn. Tờ báo vẫn cầm trên tay cô, cô đứng dậy đi vào phòng ngủ. Phoebe vẫn đang ngủ trong chiếc ngăn kéo, cánh tay tái nhợt sã xuống trên mấy tấm chăn. Sinh và mất. Caroline quay lại phòng khách và gọi điện đến phòng khám. Ruby nhấc máy ngay sau tiếng chuông đầu tiên.

“Không ngờ lại là cậu à?” cô ta kêu lên. “Chỗ này cứ như là cái trại thương điên ấy. Hình như ở thành phố ai cũng dính cúm cả rồi thì phải.” Rồi cô ta hạ thấp giọng. “Cậu nghe gì chưa Caroline? Chuyện bác sĩ Henry và con anh ấy ấy? Họ có hai đứa sinh đôi đấy. Thằng bé thì khỏe, nó xinh lắm. Nhưng con bé thì mất ngay lúc sinh. Tội quá.”

“Mình đọc trên báo rồi.” Caroline thấy hàm và lưỡi cứng đơ lại. “Nhờ cậu nhắn bác sĩ Henry gọi cho mình với, được không? Nói với anh ấy là có chuyện quan trọng lắm. Mình đã đọc báo rồi,” cô lặp lại. “Nhớ bảo anh ấy thế nhé, được không Ruby?” Nói rồi cô gác máy và ngồi trân trân nhìn cây tiêu huyền và bãi đỗ xe ở phía xa xa.

Một tiếng sau anh đã tới gõ cửa nhà cô.

“Chào anh,” cô nói rồi mời anh vào nhà.

David Henry bước vào và ngồi xuống sofa, lưng anh còng xuống, chiếc mũ cầm trong tay. Cô cũng ngồi xuống chiếc ghế tựa đối diện và nhìn anh như thể chưa từng gặp anh bao giờ.

“Norah đã cho đăng thông báo,” anh nói. Khi anh ngẩng mặt lên cô bỗng thấy lòng thắt lại vì thương cảm, trên trán anh đã hằn lên nhiều nếp nhăn, đôi mắt đỏ ngầu, dường như anh đã không ngủ nhiều ngày nay.

“Cô ấy tự ý làm mà không nói trước cho tôi biết.”

“Nhưng cô ấy nghĩ con gái mình đã chết,” Caroline nói. “Có phải anh đã nói với cô ấy như vậy không?”

Anh chậm chạp gật đầu. “Tôi cũng định cho cô ấy biết sự thật. Nhưng khi tôi mở miệng ra, tôi không thể nói nên lời được. Lúc ấy tôi nghĩ mình đang giúp cô ấy bớt đau khổ.”

Caroline nghĩ đến những lời nói dối của mình, câu nọ nối câu kia.

“Tôi không gửi con bé ở Louisville,” cô khẽ nói. Cô ra dấu về phía cánh cửa phòng ngủ. “Con bé ở trong kia. Đang ngủ.”

David Henry ngước mắt lên. Caroline hoảng hốt khi nhìn thấy khuôn mặt anh trắng bệch; cô chưa từng thấy anh tỏ vẻ xúc động đến thế bao giờ.

“Tại sao không?” anh chì chiết, gần như nổi điên lên. “Tại sao không hả trời?”

“Anh đã đến đó bao giờ chưa?” cô hỏi, trong đầu bỗng hiện ra hình ảnh người phụ nữ xanh xao với những món tóc sẫm rơi xuống tấm vải sơn lạnh lẽo. “Anh đã nhìn thấy nơi đó bao giờ chưa?”

“Chưa.” Anh cau mày. “Chỉ vì chỗ đó có vẻ rất tốt, vậy thôi. Trước đây tôi cũng đã giới thiệu vài người đến đấy. Tôi chưa thấy có ai phàn nàn gì cả.”

“Nơi đó kinh khủng lắm,” cô nói, trong lòng thấy nhẹ nhõm hẳn. Vậy là anh không biết mình đang làm gì. Dù muốn ghét anh, nhưng cô vẫn còn nhớ những đêm anh nán lại phòng khám để chữa bệnh cho những người bệnh không có đủ tiền thang thuốc chạy chữa. Những người lặn lội từ nông thôn lên, từ vùng cao xuống, đã phải trải qua một cuộc hành trình dài vất vả để tới Lexington, tiền bạc chẳng có, chỉ biết hy vọng. Các nhân viên khác làm việc cùng phòng khám chả mặn mà gì với chuyện đó, nhưng bác sĩ Henry vẫn không ngừng nghỉ. Anh không phải người xấu, cô biết lắm chứ. Anh ấy không phải một con quái vật. Nhưng việc này – tổ chức lễ tưởng niệm cho một đứa trẻ vẫn còn sống – thì thực sự là man rợ.

“Anh phải nói cho cô ấy biết đi,” cô nói.

Khuôn mặt anh vẫn tái nhợt, nhưng lộ rõ vẻ cương quyết. “Không,” anh đáp, “Đã quá muộn rồi. Cô muốn làm gì cũng được, Caroline ạ, nhưng tôi không thể nói cho cô ấy biết. Tôi sẽ không nói.”

Thật kì lạ; cô ghét anh kinh khủng vì những gì anh vừa nói ra, nhưng cũng chính khoảnh khắc ấy, cô cảm giác giữa mình và anh tồn tại một mối quan hệ gắn bó khăng khít, hơn bất kỳ mối quan hệ nào cô từng có. Họ được nối với nhau bởi điều gì đó thật lớn lao, và dẫu có chuyện gì xảy ra họ cũng không thể bị tách rời. Anh cầm lấy tay cô, đối với cô hành động này thật tự nhiên. Rồi anh đưa sát lên môi và hôn lên bàn tay ấy. Cô thấy rõ môi anh ép lên đốt xương và hơi thở của anh phả lên làn da cô thật ấm áp.

Giá kể khi anh ngẩng đầu lên và buông tay cô ra, khuôn mặt anh có lộ chút gì như sự toan tính, thứ gì khác ngoài nét rối bời đau đớn, có lẽ cô đã làm điều cần làm. Cô sẽ nhấc điện thoại và gọi ngay cho bác sĩ Bentley hoặc cho cảnh sát, cô sẽ thú nhận tất cả. Nhưng đôi mắt anh lại đẫm nước.

“Con bé nằm trong tay cô đấy,” nói rồi anh buông tay cô ra. “Tôi gửi nó cho cô. Tôi cứ nghĩ cái trại làm phúc ở Louisville là nơi tốt cho con bé. Tôi đâu có quyết bừa. Con bé cần được chăm sóc y tế mà không phải chỗ nào cũng sẵn. Dù cô định làm gì, tôi cũng tôn trọng ý kiến của cô. Kể cả nếu cô báo nhà chức trách, tôi cũng xin nhận tội. Cô sẽ không phải chịu bất cứ rắc rối nào đâu, tôi hứa đấy.”

Nét mặt anh càng nặng nề thêm. Lần đầu tiên Caroline nghĩ tới những việc xa hơn hiện tại, xa hơn đứa bé đang nằm trong căn phòng kế bên. Chưa bao giờ cô tưởng tượng nổi sự nghiệp của họ lại có lúc đứng bên bờ vực thẳm như thế.

“Tôi không biết,” cô nói chậm chạp. “Tôi phải nghĩ đã. Tôi không biết phải làm gì nữa.”

Anh rút ví ra và móc sạch tiền của trong đó ra. Ba trăm đô la – cô thấy sốc, không ngờ anh lại mang theo nhiều tiền đến thế.

“Tôi không cần tiền của anh,” cô nói.

“Tiền này không phải cho cô đâu,” anh chặn lời. “Là cho đứa trẻ.”

“Phoebe. Tên nó là Phoebe,” Caroline vừa nói vừa đẩy mớ tiền đi. Cô nhớ tới tờ khai sinh vẫn còn để trống, chỉ có chữ ký của David viết vội vã trong buổi sang đầy tuyết hôm ấy. Ghi tên của Phoebe, và tên của cô vào đó thì quá dễ.

“Phoebe,” anh nói. Anh đứng dậy ra về, bỏ lại tiền trên bàn. “Xin cô, Caroline, đừng vội làm gì khi chưa nói trước với tôi một tiếng. Tôi chỉ xin cô có vậy. Xin cô báo trước cho tôi, dù cô quyết làm gì đi nữa.”

Nói rồi anh bỏ đi, và mọi vật vẫn nguyên như nó vốn thế: chiếc đồng hồ trên mặt lò sưởi, khoảng vuông sáng trên sàn nhà, bóng những cành cây trơ trụi hằn lên thật sắc nét. Trong vài tuần nữa lá mới sẽ đâm lên, phủ đầy cây cối và biến đổi những hình ảnh in trên sàn nhà. Cô đã nhìn thấy cảnh này rất nhiều lần rồi, vậy mà căn phòng giờ bỗng trở nên xa lạ quá đỗi, dường như cô chưa từng sống ở đây một phút nào. Bao năm qua hầu như cô chẳng mua thêm mấy thứ cho riêng mình, cô đã sống một cuộc đời thanh đạm, và không ngừng mơ mộng về cuộc sống thực sự của mình ở một nơi nào khác. Chiếc sofa bọc vải kẻ ca rô, cái ghế tựa tương hợp – cô khá ưng mấy món đồ này, cô đã tự tay chọn, vậy mà giờ đây cô bỗng thấy mình có thể rời bỏ chúng thật dễ dàng. Rời bỏ tất cả, cô tự nhủ rồi nhìn quanh nhà, những bức tranh phong cảnh lồng khung, cái ghế để tạp chí đan bằng liễu gai kê sát sofa, chiếc bàn cà phê thấp. Căn hộ nơi cô sống dường như chẳng cá tính gì hơn chỗ sảnh đợi ở bất cứ một phòng khám nào trong thành phố. Mà kể ra thì ngần ấy năm trời đã qua, mà cô có làm được việc gì khác đâu, ngoài chờ đợi?

Cô cố gắng kiềm chế những suy nghĩ của mình. Chắc chắn có một cách khác, ít gây biến động hơn. Giá là mẹ cô, hẳn bà sẽ lắc đầu quầy quậy, rồi gàn cô đừng cố sắm vai Sarah Bernhardt [[8]] mà làm gì. Trong nhiều năm ròng Caroline chẳng biết Sarah Bernhardt là ai cả, nhưng cô vẫn hiểu mẹ cô muốn nói điều gì: mọi sự quá khích đều không tốt, nó xáo trộn trật tự bình lặng trong cuộc sống của họ. Vì vậy Caroline đã luôn cẩn trọng kiểm xét mọi cảm xúc của mình, như người ta kiểm tra các túi trên áo khoác vậy. Cô gạt chúng sang bên và nghĩ sau này mình sẽ tìm lại những cảm xúc ấy, nhưng tất nhiên cô chưa bao giờ đạt được điều đó, cho tới khi cô nhận đứa trẻ này từ tay bác sĩ Henry. Có điều gì đó đã bắt đầu, và giờ thì cô không thể ngăn lại nữa. Hai dòng cảm xúc lẫn lộn xâm chiếm tâm trí cô: sợ hãi và háo hức. Cô có thể rời bỏ nơi này ngay hôm nay. Cô có thể bắt đầu một cuộc sống mới ở một nơi khác. Cô phải làm thế, dù cô định xử trí ra sao với đứa bé này. Thành phố này rất nhỏ, cô khó lòng đi mua sắm mà không gặp những người quen biết. Cô tưởng tượng nếu những lời nói dối của mình cùng tình thương cô dành cho đứa trẻ bị bỏ rơi này lộ ra, hẳn khi ấy đôi mắt Lucy Martin sẽ trố ra rất to với một vẻ thỏa mãn ngấm ngầm. Mọi người sẽ xì xào này nọ, rằng tội nghiệp bà gái già, thèm có con quá đấy mà.

Tôi gửi nó vào tay cô đấy, Caroline. Khuôn mặt anh già sọm đi cả chục tuổi, nhăn nheo như một cái vỏ hồ đào.

* * *

Sáng hôm sau, Caroline dậy thật sớm. Đó là một ngày đẹp trời, cô mở toang cửa sổ, để không khí trong lành và mùi hương của mùa xuân tràn vào. Phoebe thức dậy hai lần trong đêm, khi con bé ngủ lại Caroline đã tranh thủ đóng gói đồ đạc và chất lên xe giữa đêm tối. Hóa ra cô có rất ít tư trang, tất cả đồ đạc đựng trong mấy cái va li là hết, có thể xếp vừa vặn trong thùng xe và ở băng ghế sau của chiếc Fairlane. Kể ra giờ cô có sang Trung Quốc, Miến Điện hay Hàn Quốc cũng chẳng phải bận tâm gì nhiều. Suy nghĩ đó khiến cô phấn chấn hẳn lên. Cô cũng thấy hài lòng vì khả năng xoay xở của chính mình. Đến trưa hôm qua cô đã cắt đặt mọi thứ đâu vào đấy: đồ đạc trong nhà đem tặng cho hội từ thiện, còn căn hộ giao cho công ty dịch vụ vệ sinh dọn dẹp. Cô đã cắt cả hợp đồng điện nước và hợp đồng đặt báo, cũng như viết thư yêu cầu đóng các tài khoản của mình tại ngân hàng.

Caroline ngồi nhấm nháp cà phê và chờ đợi, cho tới khi nghe thấy tiếng sập cửa ở tầng dưới và tiếng xe của Lucy rồ ga phóng đi. Rất nhanh, cô bế Phoebe lên nhưng rồi đứng nán lại một lúc trên ngưỡng cửa căn hộ nơi cô đã sống bao năm đầy hy vọng, những năm tháng ấy bỗng chỉ còn như một giây phút thoáng qua, như thể nó chưa bao giờ tồn tại vậy. Cuối cùng cô đóng chặt cánh cửa và đi xuống.

Cô đặt Phoebe vào một cái hộp để ở băng ghế sau và lái xe vào thành phố, đi qua khu phòng khám với những bức tường quét sơn màu ngọc lam với mái ngói màu cam, qua ngân hàng và mấy tiệm giặt ủi và cả trạm xăng cô rất ưa thích. Khi lái đến nhà thờ cô dừng xe lại trên phố và để Phoebe ngủ yên trong xe. Trong sân nhà thờ có nhiều người hơn cô tưởng, cô đứng lại phía ngoài, vẫn đủ gần để nhìn thấy cái gáy của David Henry đỏ ửng vì giá rét, và mái tóc của Norah Henry đã được vấn lại theo một kiểu cách rất trang nghiêm lịch sự. Không ai để ý đến Caroline. Gót giày của cô ngập lút trên vũng bùn bên rìa vỉa hè. Cô cố giảm trọng lượng lên mấy đầu ngón chân và chợt nhớ lại thứ mùi ẩm mốc của nhà cứu tế mà bác sĩ Henry đã chỉ cô đến tuần trước. Nhớ cả người phụ nữ mặc áo choàng, những lọn tóc rơi tan tác trên sàn nhà.

Từng câu nói trôi đi giữa không gian buổi sáng tĩnh lặng.

Đêm sáng rõ như ban ngày; bóng tối và ánh sáng đối với Người cũng như nhau.

Caroline đã từng thức dậy vào những giờ thất thường nhất. Cô đã đứng bên cửa sổ bếp ăn bánh quy ngay giữa đêm khuya. Ngày và đêm đối với cô không còn phân biệt rạch ròi nữa, cái khuôn mẫu tẻ nhạt của cuộc sống thường ngày cuối cùng cũng bị phá bỏ hoàn toàn.

Norah Henry đưa chiếc khăn tay viền ren lên lau nước mắt. Caroline vẫn còn nhớ cái xiết tay của cô ta khi cô cố rặn để đẩy một đứa bé ra rồi đến đứa kia, và cả những giọt nước mắt của cô ta sau đó nữa. Chuyện này có thể hủy hoại cô ấy, David đã nói vậy. Sẽ ra sao đây, nếu Caroline bước tới cùng đứa trẻ đã mất của cô ta trên tay? Sẽ ra sao nếu cô ngăn chặn nỗi đau này, chỉ để mang tới thêm nhiều nỗi đau khác nữa?

Người đã phơi bày những hành động xấu xa của chúng con trước mặt Người, đã soi rọi những tội lỗi bí mật của chúng con dưới ánh sáng nhân từ của Người.

David Henry đổi chân trụ ngay giữa lúc vị giáo sĩ đang đọc kinh. Lần đầu tiên Caroline bỗng hiểu ra mình sẽ phải làm gì. Họng cô câm nín và hơi thở bỗng đứt quãng. Lớp sỏi phía dưới dường như nhô hẳn lên, xuyên thủng cả đôi giày cô đi, hình ảnh đám người đứng trong sân nhà thờ nhòe đi trong mắt cô, cô nghĩ mình sẽ ngã mất. Nấm mồ, Caroline thầm nghĩ, cô dõi theo đôi chân dài của Norah, cô ta bỗng khuỵu gối xuống lớp bùn, trông vẫn thật duyên dáng. Gió thổi tung tấm mạng ngắn che khuôn mặt Norah, xô lệch cả chiếc mũ tròn cô ta đang đội.

Bởi những gì nhìn thấy chỉ là thoáng qua, những gì không thấy được mới là vĩnh hằng.

Caroline nhìn theo bàn tay vị giáo sĩ, và khi ông cất lời, từng lời nói, dù rất nhỏ, dường như không còn hướng đến Phoebe nữa mà nhắm thẳng vào chính cô, giống như một bản án cuối cùng không thể xoay chuyển được nữa.

Chúng ta trả thân xác của em về với hư không, đất về với đất, tro tàn về với tro tàn, cát bụi về với cát bụi. Chúa ban phước lành cho em và che chở cho em, thiên nhãn của Người mãi rọi ánh hào quang lên em và ban cho em bình an.

Giọng nói ngưng bặt, gió reo xào xạc trên những rặng cây, Caroline gắng hết sức để giữ bình tĩnh, cô đưa khăn tay lên gạt nước mắt, rồi lẹ làng lắc đầu. Cô quay lưng trở về chỗ chiếc xe đang đỗ, nơi Phoebe đang nằm ngủ, một vệt nắng rớt trên khuôn mặt con bé.

Ở cuối mỗi điểm kết thúc lại là một sự khởi đầu mới. Chẳng mấy chốc cô đã rẽ ngoặt ở chỗ xưởng chế tác bia tưởng niệm với những dãy dài bia mộ, thẳng tiến hướng đại lộ liên bang. Thật kỳ quái. Để một xưởng khắc bia mộ án ngữ ngay cửa ngõ thành phố chẳng phải là điềm xấu lắm sao? Nhưng rồi cô cũng bỏ xa tất cả, và đến giao lộ đường cao tốc, cô chọn hướng Bắc, lên Cincinnati để tới Pittsburgh, men theo sông Ohio về nơi bác sĩ Henry đã sống một khoảng thời gian quá khứ đầy bí mật của anh. Con đường còn lại, con đường dẫn đến Loiusville và nhà cứu tế dành cho bệnh nhân thiểu năng trí tuệ, mất hút dần trong gương chiếu hậu.

Caroline lái xe thật nhanh, trong lòng không chút vướng bận, trái tim cô tràn ngập cảm xúc tươi sáng phấn khích. Phải rồi, điềm xấu thì đã sao? Dù gì thì trong mắt người đời, đứa trẻ bên cạnh cô đã chết rồi. Và cô, Caroline Gill, cũng đã biến mất khỏi mặt đất này, cảm giác ấy khiến cô thấy mình nhẹ nhõm, nhẹ nhõm thêm lên, dường như cả chiếc xe cũng sắp cất cánh bay lên trên những cánh đồng im lìm vùng Bắc Ohio. Trong suốt buổi trưa đầy nắng ấy, Caroline lái xe từ Bắc sang Đông, lòng tràn đầy niềm tin tưởng tuyệt đối vào tương lai. Mà tại sao lại không chứ? Vì trong mắt người đời chuyện tồi tệ nhất đã xảy ra với họ, vậy thì chắc chắn là chuyện tồi tệ nhất ấy giờ đã lùi xa sau lưng họ rồi.

———–

[8] Sarah Bernhardt (1844-1923): tên thật Henriette Rosine Bernhardt, một nữ nghệ sĩ sân khấu người Pháp. Được mệnh danh là giọng ca vàng, bà được xem như một trong những nghệ sĩ lớn nhất của thế kỷ 19

 

Xem cả bộ:

Các chương khác:

xem thêm -->> truyen sex

|

xem thêm -->> Girl xinh với nội y

Truyện cùng chuyên mục:

Thế giới truyện:
Truyện tranh 18, Truyện dâm, truyện 18, truyện làm tình
Tin tức:
Girl xinh nội y
Mobile-Công Nghệ
Ngôi Sao – Showbiz
Nhịp Sống Trẻ
Tin Sock – Tin Hot
Đời Sống – Tổng Hợp
Game kinh điển: