truyen sex hay
Google+
Trang chủ » Thế giới truyện » Ngôn tình Trung Quốc

Chỉ gọi tên em – Chương 06 

Đăng ngày 14/6/2013 by admin

Xem toàn tập:
loading...

“Hôm nay đổi gió chút,
chúng ta sẽ đến Đại học Bắc Kinh nghe giảng,” thầy Lý nói.

Sinh viên Bắc Kinh trong
đoàn chúng tôi không có ai học Bắc Đại [20], đến đại học Bắc Kinh nghe giảng là
điều rất mới mẻ đối với họ, còn đối với sinh viên Đài Loan, chuyến đi này ít
nhiều mang ý nghĩa hành hương.

Chúng tôi vào Bắc Đại
qua cổng Tây.

Không ngờ cổng vào ngôi
trường này lại mang kiến trúc cửa hoàng cung cổ điển, ba cánh cổng sơn đỏ nhìn
vô cùng bắt mắt.

Nếu không phải ở giữa
treo tấm biển “Đại  học Bắc Kinh”, tôi còn tưởng đây hẳn phải vương phủ
hay cung điện gì chứ.

Hai con sư tử đá được
đẽo khắc tinh xảo, uy nghiêm trấn hai bên trái phải cổng trường, ánh mắt rực
sáng long lanh rất có thần, bất nộ tự uy.

“Đây là sư tử đá trong
Viên Minh Viên

Cổng trường nườm nượp
người qua lại không ngơi nghỉ, nhưng lại chẳng có ai để ý đến hai con sư tử đá
đã trải qua hàng trăm năm thăng trầm này.

Từ cổng Tây bước vào Bắc
Đại, thứ đầu tiên đập vào tầm mắt, là hai cột hoa biểu đứng sừng sững chót vót
trên thảm cỏ.

Dưới sự tương phản của
nền cỏ xanh rờn, cột hoa biểu đội ánh dương trở nên vô cùng khiết bạch trang
nghiêm.

Tôi nhớ lại cột hoa biểu
đã nhìn thấy ở Tử Cấm Thành, trong lòng dậy lên một nghi vấn: Sao trong khuôn
viên trường lại dựng cột hoa biểu?

“Đôi hoa biểu này cũng
là lấy từ Viên Minh Viên,” thầy Lý nói.

Lại là từ Viên Minh
Viên?

Đi thẳng về hướng đông
có thể thấy rất nhiều các tòa nhà xây dựng theo phong cách kiến trúc Minh –
Thanh, rất điển nhã, với những vạt cây xanh bao bọc xung quanh.

Noãn Noãn kể với tôi,
thầy Lý tốt nghiệp trường Bắc Đại, còn di tích Viên Minh Viên thì nằm ngay cạnh
trường này.

Thầy Lý nói trường Bắc
Đại nổi tiếng nhất là “nhất tháp hồ đồ”, nghe hệt như nhất loạt hồ đồ.

Cái gọi là “nhất tháp hồ
đồ” chính là chỉ tháp Bác Nhã, hồ Vị Danh và đồ thư quán tức thư viện Bắc Đại.

Đi qua một dãy đồi cây
cối um tùm, liền thấy hồ Vị Danh, tháp Bác Nhã đứng sừng sững trên bờ hồ tây
nam.

Chúng tôi đi thành hàng
một men theo bờ hồ Vị Danh, bóng tháp Bác Nhã thấp thoáng ẩn hiện trên mặt hồ,
cảnh đẹp vô cùng.

Những gợn sóng li ti
đuổi trên mặt nước, hàng dương liễu trên bờ duyên dáng rủ bóng, giữa hồ lại có
một hòn đảo nhỏ điểm xuyết giữa sắc hồ bóng tháp.

“Ban đầu khi đặt tên cho
hồ này, có rất nhiều cái tên được đưa ra nhưng đều không khiến người ta hài
lòng,” thầy Lý nói, “cuối cùng Đại sư Quốc học Tiền Mục bèn đặt luôn hồ là ‘Vị
Danh’ tức ‘chưa có tên’, cái tên Vị Danh cũng lưu truyền rộng rãi từ đó.”

“Sau này anh cũng muốn
làm Đại sư Quốc học,” tôi nói.

“Ý, muốn quyết tâm phấn
đấu hả?” Noãn Noãn cười rất dễ thương.

“Ừ.” Tôi gật đầu. “Anh
dốt nhất là đặt tên, nhưng nếu làm Đại sư Quốc học rồi thì sẽ không còn khó
khăn gì nữa.”

Noãn Noãn đi ra chỗ
khác, không thèm nói gì với tôi nữa.

Nhưng nhỡ may lại nhiều
Đại sư Quốc học quá, e rằng cũng vẫn còn khó khăn.

Ví dụ như có hai người
Trung Quốc xa lạ gặp nhau trên nước Mỹ, chuyện nọ chuyện kia qua lại, uống rượu
cười nói vui vẻ.

Người thứ nhất nói anh
ta sống ở tòa nhà Vị Danh trên đường Vị Danh, người thứ hai liền hào hứng nói:
Trùng hợp quá, tôi cũng thế đấy.

Người thứ hai nói anh ta
tốt nghiệp trường cấp III Vị Danh, bờ song Vị Danh gần trường là nơi anh ta có
mối tình đầu tiên.

Tôi cũng thế đấy! Người
thứ nhất cực kỳ xúc động.

Hai người rưng rưng nước
mắt vài giây sau bèn ôm chầm lấy nhau, hai con cháu Viêm Hoàng tương phùng nơi
đất lạ xa xôi, thật đúng là tha hương gặp cố nhân! Hai người đều kêu lên hôm
nay để tôi mời.

Nhưng rồi tiếp tục câu
chuyện mới phát hiện ra một người ở Bắc Kinh, người kia ở Thượng Hải.

Cuối cùng người Bắc Kinh
nói: Người Thượng Hải thực dụng lắm, người Thượng Hải nói: Người Bắc Kinh ngoan
cố lắm, ánh dương đã dần khuất nơi triền tây mà tiền rượu vẫn chưa ai trả.

“Vẫn còn chưa xong à,”
Noãn Noãn dừng lại, quay đầu trừng mắt với tôi.

“Còn xíu nữa thôi, cố
kiên nhẫn một chút,” tôi nói.

“Nói mau lên.”

“Đã vô danh rồi, vậy
cũng sẽ vô tranh,” tôi nói. “Hai từ Vị Danh dường như để nhắc nhở tất cả sinh
viên Bắc Đại không cần màng danh lợi, rộng lượng không tranh chấp. Anh nghĩ đây
mới là chủ ý của Tiền Mục tiên sinh.”

“Câu này mới còn ra
hồn.” Noãn Noãn bật cười.

“Nếu học ở đây, hẳn phải
dễ kiếm bạn gái lắm,” tôi nói.

“Hả?”

“Trường bọn anh cũng có
một cái hồ, đi một vòng chưa hết mười phút. Nhưng đi dạo với con gái thì mười
phút sao đủ được? Đành đi tiếp vòng thứ hai, vòng thứ ba, vòng thứ tư…” Tôi thở
dài một tiếng, rồi nói tiếp: “Cuối cùng cô gái kia không chịu được nữa bèn nói:
Đừng có dẫn tôi đi vòng vòng nữa! Chúng ta chia tay! Đừng tới tìm tôi nữa! Ba
dấu chấm than kinh hoàng đã kết thúc một cuộc tình thế đấy.”

“Thế thì sao hồ Vị Danh
lại giúp người ta có bạn gái?” Noãn Noãn hỏi.

“Hồ Vị Danh vừa rộng vừa
đẹp, thanh niên nam nữ tan học xong đến đây dạo bộ đến cả quên cả thời gi­an.
Đi mãi đi mãi, chàng trai bèn nói: Anh nguyện trở thành ngọn tháp Bác Nhã sừng
sững uy nghi, còn em là nước hồ Vị Danh dịu dàng đa tình, anh một bước không
đi, ngày ngày đứng đó, chỉ mong bóng mình mãi chiếu xuống lòng em. Có khi còn
chưa đi hết nửa vòng hồ, một cặp tình nhân đã ra đời rồi.”

“Sao đơn giản thế được.”
Noãn Noãn không tán

“Nếu như chàng trai nói:
Chúng ta nhất định sẽ mãi ở bên nhau, vĩnh viễn dài lâu, không chia không lìa,
không quản gió, không quản mưa, cũng không quản sấm sét. Liên quân Anh Pháp có
thể đốt trụi Viên Minh Viên, cũng không sây sát được hòn đá trong lòng anh, bởi
trên hòn đá trung thành ấy có khắc tên em. Thế này thì sao?” tôi hỏi.

“Quá sến,” Noãn Noãn
nói, “Anh thử lại đi.”

Tôi ngoẹo đầu nghĩ ngợi
hồi lâu mà chẳng nặn nổi câu nào nữa.

“Không nghĩ ra chứ gì.”
Noãn Noãn cười khúc khích, “vậy em có thể rảnh tai được rồi.”

“Dù gì thì hồ cũng đủ
lớn, có thể đi rất lâu” tôi nói, “đi dạo lâu trong cảnh đẹp nên thơ này, có là
người sáp cũng lây thêm vài phần ý thơ.”

“Như anh thì không thể
rồi, anh chỉ biết nói nhảm thêm thôi,” Noãn Noãn nói.

Đi tiếp chừng mười lăm
phút nữa, tháp Bác Nhã đã gần ngay trước mặt.

Tháp Bác Nhã được xây
giả theo tháp đèn cổ Thông Châu, có mười tầng, cao 37 mét.

“Các bạn thử đoán xem,
tòa tháp này dùng để làm gì?” thầy Lý chỉ tòa tháp hỏi.

Mọi người bắt đầu rào
rào tranh luận, có người nói tháp thường được xây trong đền thờ Phật, xây trong
khuôn viên trường thế này kỳ quá; cũng có người nói chắc không phải giống tháp
Lôi Phong dùng trấn áp Bạch nương tử, ở đây cũng đang trấn áp một loài yêu quái
nào đó ư?

Cuối cùng thấy Lý cũng
công bố đáp án: Đây là tòa thủy tháp, một tháp cung cấp nước được cải trang như
một tòa bảo tháp.

Tháp Bác Nhã được xây
vào những năm 20, trước sau âm thầm lặng lẽ đứng bên bờ hồ, cung cấp nước sinh
hoạt cho thầy và trò trường Bắc Đại.  

Tôi ngẩng đầu ngước nhìn
tòa tháp cao ngút tầng mây, tháp Bác Nhã dãi dầu sương gió, xung quanh chỉ có
những tán tùng bách bầu bạn.

“Một kiến trúc mang đầy
vẻ đẹp nghệ thuật văn hóa, có thể chỉ giữ một vai trò đơn giản; hoặc nói cách
khác, một người công dân làm nhiệm vụ cấp thoát nước có vẻ hèn kém, nhưng có
thể nội tâm anh ta lại mang đầy hơi thở nghệ thuật văn hóa,” thầy Lý nói.
“Trước đây khi còn học ở Bắc Đại, tôi thường tới đây trầm ngâm suy ngẫm, lần
nào cũng đều có thu nhận đáng kể.”

Rời tháp Bác Nhã, chúng
tôi đi về hướng Nam, tạm biệt hồ Vị Danh, chuẩn bị đến nơi sẽ lên lớp.

“Hồ Vị Danh đẹp thật.”
Tôi ngoảnh lại nhìn hồ Vị Danh lần cuối, nói: “Nhưng khi đi bên em, lại thấy hồ
Vị Danh cũng chỉ thường thường thôi.”

Noãn Noãn đột nhiên dừng
khựng lại.

Tôi nói xong liền thấy
có điều gì bất thường cũng dừng khựng lại.

Mọi người đều dần dần đi
hết, chỉ có tôi và Noãn Noãn vẫn đứng nguyên chỗ cũ.

“Anh!” Cậu em khóa dưới
ngoảnh đầu lại hét lớn gọi tôi: “Đừng có chuồn đấy!”

Chẳng hiểu sao tôi lại
có thể buột miệng nói ra câu đó?

Là vì trong đầu đang
tưởng tượng đến đoạn đối thoại nam nữ đi dạo trên hồ Vị Danh ư?

Hay vì trong lòng tôi
vẫn luôn thấy Noãn Noãn rất đẹp, nên bất giác đem so sánh với vẻ đẹp của hồ Vị
Danh?

Hai cái giả thiết trên
đều đúng, chỉ vì tôi đã đem mình và Noãn Noãn gán vào đôi nam nữ kia?

“Đây chính là đáp ác trước
em bảo anh thử lại phải không?” Cuối cùng Noãn Noãn cũng lên tiếng.

“Cứ coi thế đi.
Nhưng…ờm…” tôi trả lời, “anh cũng không chắc lắm.”

Không khí chẳng hề vì
tôi và Noãn Noãn đều đã mở lời mà thay đổi.

“Anh.” Cậu em chạy lại,
nói: “Bọn mình chơi trò rong biển[21] đi.”

“Làm gì?” tôi hỏi.

“Rong biển à rong biển…”
Cậu ta dang rộng hai tay như đại bàng xòe cánh, cánh tay uốn lượn như sợi rong
biển.

“Nhạt vừa chứ,” tôi nói.

“Rong biển à rong biển
à…” Cậu ta lại giơ cao hai tay, cánh tay đang uốn lượn lên trên, tôi liền cốc
cho cậu ta một phát, nói: “Lại còn nữa!”

Cậu ta liền cười sằng
sặc rồi bỏ chạy, Noãn Noãn cũng bật cười khúc khích.

“Bọn mình đi thôi.” Noãn
Noãn dứt lời bèn rảo bước về phía trước.

Tôi cũng rảo bước theo,
bắt kịp Noãn Noãn, rồi bắt kịp đoàn người.

Đi qua đường Ngũ Tứ,
liền thấy một gi­an tứ hợp viện xây từ cuối đời Thanh, trên cổng có viết: Trị
Bối Tử Viên.

Trước cổng còn có một
bức tượng Lão Tử đẽo bằng đá, cao khoảng hai mét.

Trong sân là các đình
viện nhỏ còn đậm hương sắc cổ, đâu đâu cũng toát lên một vẻ cổ kính, mộc mạc,
điển nhã.

“Hôm nay lên lớp ở đây

“Nghe nói vậy,” Noãn
Noãn nói.

“Ừ,” tôi gật đầu, “chỗ
này rất hợp với phong cách của anh.”

Noãn Noãn cười gập bụng,
như vừa nghe thấy một chuyện cười siêu hài hước.

Thầy giáo đứng lớp hôm
nay tóc bạc trắng, nhưng trên mặt chả có đến nửa cọng râu, giảng về tư tưởng
của Lão Trang.

Bài giảng bắt đầu từ
chương một “Đạo khả đạo, phi thường đạo; danh khả danh, phi thường danh” trong
Đạo đức kinh.

“Đạo” là thứ có thể nói,
nhưng đạo có thể biểu đạt bằng ngôn từ, thì đạo ấy chẳng vĩnh hằng bất biến;
miêu tả diện mạo vạn sự vạn vật – tức “danh”, cũng có thể được định nghĩa,
nhưng một khi đã định nghĩa quá rõ ràng, thì diện mạo vốn có của vạn sự vạn vật
hẳn không thể được miêu tả chân thực.

Ừm, uyên thâm quá.

Bình thường nếu nghe
phải bài giảng uyên thâm kiểu này, tôi đều tận dụng thời gi­an nghe giảng để
nạp năng lượng.

Nhưng có thể học ở nơi
thế này quả là một trải nghiệm cả đời khó gặp, tính tò mò của tôi dễ dàng đánh
bại cơn buồn ngủ.

Len lén quan sát bốn bề
phòng học, xà trên mái, gạch dưới đất đều hiển hiện những dấu ấn lịch sử.

Mùi vị không khí cũng
khác hẳn, có một hương thơm nhè nhẹ, không sao gọi được thành tên.

Tôi viết lên tờ giấy
trước mặt Noãn Noãn: Có ngửi thấy một mùi hương đặc biệt không?

Noãn Noãn hít ng viết
lên tờ giấy trước mặt tôi: Không. Là mùi gì?

Tôi lại viết: Mùi hương
này rất giống mùi trên người anh.

Noãn Noãn viết: ?

Tôi viết: Đó gọi là
hương sách.

Noãn Noãn viết: Ngậm
miệng!

Tôi viết: Nhưng anh dùng
tay viết mà.

Noãn Noãn viết: Thế thì
dừng tay!

Trước khi hết giờ, thầy
giáo nói bản tính của con người cũng như viên ngọc bị vùi sâu dưới đáy lòng,
chỉ lộ ra một chút ít.

Mỗi người đều phải khai
quật từng chút từng chút viên ngọc vùi giấu nơi đáy lòng ấy, đem nó ra, mài
giũa nó.

Đây chính là quá trình
tìm tòi tự phát huy bản thân.

“Cần nỗ lực khai quật
chính mình.” Thầy lấy đây là câu kết của buổi học hôm nay.

“Anh đã khai quật được
chính mình chưa?” ra khỏi Trị Bối Tử Viên, Noãn Noãn hỏi.

“Cái có thể khai quật đã
chẳng phải khai quật. Thà rằng chẳng khai quật còn hơn,” tôi nói. “Đây là đạo
gia đấy.”

“Còn gì nữa không?” Noãn
Noãn nói.

“Khai quật chính là
không, không chính là khai quật, đây là Phật gia,” tôi nói.

“Tiếp theo?”

“Người chí sĩ bậc nhân
nhân, không ai khai quật mà hại Đạo nhân, chỉ có kẻ không khai quật mà thành
Đạo nhân. Đây là Nho gia.”

Noãn Noãn thở dài, nói:
“Nói nhảm hình như chính là bản chất của anh.”

“Giờ em mới phát hiện ra
à?”

Chúng tôi tới Tam Giác
Địa ăn trưa. Ăn xong, tôi ra cửa hàng gần đó mua phong bì và giấy viết thư của
trường Bắc Đại.

“Có ý nghĩa gì đặc biệt
à?” Noãn Noãn hỏi.

“Anh định dung phong bì
và giấy viết thư để viết CV tìm việc,” tôi nói. “Công ty nhận được thư chắc
chắn sẽ nghĩ anh tốt nghiệp đại học Bắc Kinh, tò mò bèn đọc kỹ. Như vậy CV của
anh mới không chìm nghỉm giữa cả biển thư.”

“Anh nghĩ nhiều quá rồi
đấy.”

“Nghĩ nhiều vẫn cứ tốt
hơn. Giờ ở Đài Loan khó tìm việc lắm.”

Mọi người dạo bộ về
hướng Bắc, gần đến hồ Vị Danh, liền trông thấy thư viện Bắc Đại.

Đây là tòa nhà mới của
thư viện, cửa chính nằm ở hướng Đông, vừa vặn nối liền cổng Đông của trường.

Nếu vào Bắc Đại từ cổng
Đông, tầm mắt không có gì cản trở, sẽ có thể nhìn thẳng thấy thư viện Bắc Đại.

Thư viện thiết kế theo
phong cách truyền thống kết hợp hiện đại, phần mái hệt như cung điện trong Tử
Cấm Thành, toát lên vẻ cổ điển mà phóng khoáng.

Tổng thể kiến trúc có
màu xám trắng, càng tràn đầy khí thế trang nghiêm, vững chãi.

Hai bên tường tòa nhà
mới vừa khéo nối với tòa nhà cũ, tạo thành thư viện đại học có quy mô lớn nhất
châu Á.

Thầy Lý nói có sinh viên
trường Bắc Đại đã viết câu thơ miêu tả không khí trong thư viện thế này: Tĩnh,
tĩnh một cách hừng hực sôi nổi.

Mọi người liền rộ lên
muốn vào thư viện cảm nhận chút không khí.

Chúng tôi đem chứng minh
thư đổi lấy một thẻ đọc tạm thời xong, bèn nhẹ chân nhỏ tiếng, lặng lẽ như cá
bước vào thư viện.

Điều khiến tôi ấn tượng
sâu sắc nhất là ánh mắt của những sinh viên đang đọc sách, hệt như loài mãnh hổ
đang dõi sát theo con mồi

Nếu như thế giới của
sinh viên cũng có cảnh giới lý tưởng, thì đây hẳn chính là hình mẫu thế giới
đại đồng.

Đáng tiếc tôi đã tốt
nghiệp rồi, nếu như vẫn chưa, trở về Đài Loan rồi tôi nhất định sẽ càng dụng
công học hành.

Nhưng đứng ở một góc độ khác
mà nói, may là tôi đã tốt nghiệp rồi, không thì áp lực thật quá lớn.

Học khả học, phi thường
học. Ừm, cứ học nhẹ nhàng là được rồi.

Chúng tôi lại đi về
hướng Bắc tới ven hồ Vị Danh, tiếp tục thưởng lãm phong cảnh hai bên bờ hồ buổi
sáng vẫn còn chưa dạo hết.

Phía tây hồ Vị Danh,
trên mặt nước lộ ra một con cá đá đang quẫy đuôi há miệng hướng lên trời, đây
cũng là một di vật của Viên Minh Viên.

“Cá đá trong hồ Vị Danh,
thật là một điểm nhấn kết hợp kỳ diệu,” Noãn Noãn nói.

“Anh em bạn bè nó đều đã
bị cháy trụi hết rồi, một mình nó hiu quạnh ở đây nhấn nhá nhất định rất cô
đơn,” tôi nói.

“Ừ! cười. “Thật không
ngờ anh cũng có trái tim cảm tính đấy nhỉ.”

“Em có mang khóa ở đây
không?”

“Mang khóa làm gì?”

“Anh phải khóa trái tim
mình lại, không để em nhìn thấy nữa.”

“Em có mang súng đây,
hay là, bắn chết nó luôn đi,” Noãn Noãn nói.

Rời khỏi Bắc Đại từ cổng
Tây, lên xe ngồi chưa nóng chỗ đã tới Viên Minh Viên, hai nơi này cách nhau
chưa đến một cây số.

Nơi đây thực ra cũng
chẳng còn lại gì nữa, sau trận cháy lớn ba ngày ba đêm liên quân Anh Pháp gây
ra năm 1860, ngoài những hồ nước và bộ phận các văn vật điêu khắc đá vụn nát
ra, mọi thứ đều đã bị cháy rụi.

Thế nhưng lá sen xanh
biếc, hoa sen thắm sắc trong hồ, cây cối mọc lên từ những khe ngói, đống đổ nát
giấu mình giữa những thảm cỏ, tổng thể cảnh sắc tự nhiên vẫn mang một vẻ đẹp và
một sức sống mãnh liệt.

“Ngoài chữ viết, tranh
ảnh, phim truyện có thể ghi lại lịch sử, những phế tích cũng có thể là bằng
chứng cho lịch sử,” thầy Lý nói. “Ý nghĩa tồn tại của công viên di chỉ Viên
Minh Viên, chính là để nhắc nhở người dân Trung Quốc chớ quên đi lịch sử.”

Hồi những tử tôn học
rộng biết nhiều ham mê cái mới, nhớ tới tổ tiên từng khởi gia với mười ba bộ
giáp, viết bảy đại hận cáo thiên, phát binh đánh Minh, bất khả chiến bại, tự
hào biết bao.

Nếu bây giờ bị cướp sạch
đốt sạch vườn hoa nhà cửa, lẽ nào các bạn lại chỉ biết cúi đầu nhận lỗi, cắt
đất bồi thường, vậy thì còn mặt mũi nào gặp lại tổ tiên!?

“Em nói đúng lắm,” tôi
nói với Noãn Noãn, “chẳng trách Hàm Phong không dám vào ở Hoàng Khung Vũ trong
Thiên Đà

“Em nói bừa thôi,” Noãn
Noãn nói.

“Không, em không biết
nói bừa, chỉ biết nói rõ thôi. Em lúc nào cũng sắc bén, nhìn xa trông rộng,”
tôi nói. “Nếu như người con gái Hàm Phong gặp không phải Từ Hy mà là Noãn Noãn,
kết cục nhất định sẽ khác.”

“Khác ở đâu?”

“Gỗ làm bài vị của Hàm
Phong sẽ rất cứng, tên trên bài vị cũng rất lớn, hương thắp sẽ rất dài, lúc
dâng hương mọi người cũng sẽ khóc rất to.”

“Nói đủ chưa thế?”

“Đủ rồi.” Tôi cười cười.

Chúng tôi dừng ở Viên
Minh Viên không được bao lâu, đã lại lên xe tới Di Hòa Viên.

Di Hòa Viên nằm ở phía
tây Viên Minh Viên , cũng ngồi chưa nóng mông đã đến nơi.

Chính vì gần nhau như
thế mà tiền thân của Di Hòa Viên – Thanh Y Viên, cũng đã bị cháy rụi bởi liên
quân Anh Pháp.

Về sau Từ Hy trưng dụng
ba mươi triệu lượng bạc trắng kinh phí hải quân xây dựng lại trong suốt mười
năm, rồi đổi tên thành Di Hòa Viên.

Di Hòa Viên là khu nghỉ
mát của hoàng gia cuối đời Thanh, và cũng là hành cung của Từ Hy.

Từ cửa Đông Cung bước
vào, sáu tấm cửa đỏ tươi bên trên có khảm đinh vàng, phía trước cửa còn có một
đôi sư tử lớn bằng đồng.

Đầu tiên chúng tôi vào
thăm quan điện Nhân Thọ nơi Từ Hy xử lý chính sự, Đức Hòa Viên nơi Từ Hy nghe
kịch, buồng ngủ Ngọc Lan Đường, rồi đi dạo ven hồ Côn Minh, chiêm ngưỡng cảnh
hồ sắc n

Hồ Côn Minh gợn sóng
biếc, núi Vạn Thọ dưới ánh nắng hòa vào dãy Tây Sơn, sơn thủy một màu.

Trên mặt hồ trải rộng,
điểm xuyến ba hòn đảo nhỏ, quanh hồ có đủ các đình đài lầu gác điển nhã muôn
hình muôn vẻ.

Di Hòa Viên vừa nguy nga
tráng lệ kiểu hoàng gia, lại có linh khí thanh nhã của lâm viên Gi­ang Nam.

“Hồ Côn Minh đẹp thật.
Nhưng…”

“Này,” Noãn Noãn vội
vàng ngắt lời tôi, “mấy lời quái đản ngày nói một lần là đủ rồi.”

“Hôm nay anh đã nói câu
nào quái đản đâu?”

“Thì lúc ở hồ Vị Danh
ấy, anh nói gì mà hồ Vị Danh đẹp thật…”

“Hồ Vị Danh đẹp thật,
nhưng khi đi bên em, lại thấy hồ Vị Danh cũng chỉ thường thường thôi. Em bảo
câu này hả?”

Tốc độ nói của tôi quá
nhanh, vốn chẳng kịp nghĩ xem có nên nói hay không, đã liền một hơi nói hết ra
rồi.

Noãn Noãn nghe xong
dường như đỏ mặt, tôi cũng thấy hai vành tai mình nóng bừng lên.

“Noãn Noãn.”

“Hả?”

“Chúng ta hãy đứng trên
lập trường người thứ ba để kiểm điểm đoạn đối thoại này, không mắc vào ân oán
cá nhân.”

“Được.” Noãn Noãn gật
đầu, rồi bật cười.

“Thanh niên nam nữ tản
bộ ven hồ Vị Danh…” Tôi ngừng lại, nuốt nước bọt, rồi nói tiếp: “Nếu chàng
trai nói ra một số câu quái đản, cô gái sẽ phản ứng ra sao?”

“Có thể thấy ngọt ngào,
mà cũng có thể thấy nhàm chán. Có khi thấy buồn nôn,” Noãn Noãn nói.

“Giả sử, chỉ là giả sử,
em là cô gái trong cặp nam nữ đang dạo hồ Vị Danh đó, khi em nghe thấy mấy lời
quái đản ấy, em có cảm tưởng thế nào?”

“Cái đấy còn phải xem là
ai nói đã.”

“Giả sử, là giả sử nhé,
chàng trai đó là anh.”

“Ờm…” Noãn Noãn trầm
ngâm một lúc, “mang tai em mềm, chắc cũng nghe lọt thôi.”

“Thật không?”

“Dù gì người như anh
miệng cún chẳng mọc được ngà voi, khó lắm mới nói được câu dễ nghe, đương nhiên
là phải nghe rồi.”

“Thế thì tốt.”

“Đấy là em nói, giả sử
em là cái cô đó.”

“Nhưng đồng thời em cũng
giả sử anh là anh chàng đó.”

“Em…” Noãn Noãn ấp
úng.

“Noãn Noãn,” tôi nói,
“bọn mình đổi chủ đề đi.”

“Được thôi.” Noãn Noãn
như trút được gánh nặng, thở phào nhẹ nhõm.

“Từ Hy quả là đã tốn
nhiều tâm huyết,” tôi nói.

“Hả?”

“Nếu không phải Từ Hy
trưng dụng kinh phí hải quân, làm sao có được một Di Hòa Viên đẹp thế này?”

“Nói gì thế,” Noãn Noãn
nói, “lẽ nào anh không biết đạo chỉ này đã dẫn đến thất bại trong trận chiến
Giáp Ngọ sau này à?”

“Nếu như Từ Hy không
những không trưng dụng kinh phí hải quân, mà còn ủng hộ cả châu báu của bản
thân cho hải quân, ví dụ như áo lót nạm dạ minh châu với quần lót nạm kim
cương,” tôi nói, “lẽ nào trận chiến Giáp Ngọ có thể thắng được ư?”

“Cái này…”

“Số tiền đó nếu đổ vào
túi người Nhật, thì chi bằng dùng để xây Di Hòa Viên còn hơn. Từ Hy biết về sau
người dân Trung Quốc ngoài siêng năng làm việc, cũng cần một số danh thắng để
khích lệ tinh thần, nên mới thà chịu thế nhân mắng chửi, cũng phải để lại Di
Hòa Viên cho con cháu đời sau. Vì vậy mới nói, Từ Hy quả là tốn nhiều tâm
huyết.”

“Nói nhảm.” Noãn Noãn
trừng mắt nhìn tôi.

“Thế lại đổi chủ đề là
được rồi,” tôi nói.

“OK. Nhưng không được
nói mấy chuyện ngớ ngẩn kiểu chuối vấp ngã biến thành cà tím, đậu xanh từ gác
rơi xuống lại thành đậu đỏ.”

“Được.” Tôi cũng gật gật
đầu. “Đúng rồi, vừa rồi anh nói nhầm, Từ Hy chắc chắn cũng có thắt ruột tượng,
vì vậy cái bà hiến tặng là dải ruột tượng được nạm mười chữ ‘Người phụ nữ Trung
Quốc có thân hình đẹp nhất’ bằng các loại đá quý.”

“Chuyển chủ đề!”

“Từ Hy thật là tốn nhiều
tâm huyết,” tôi nói.

“Này.”

“Trước khi chết, Từ Hy
còn không quên gửi thuốc độc cho Quang Tự, bắt ông chết trước.”

“Thế coi là tốn nhiều
tâm huyết vào việc gì?”

“Từ Hy biết Quang Tự
hiếu thuận, nếu mình chết trước, Quang Tự nhất định sẽ đau khổ tột cùng. Nên
thà mình mình chịu đựng nỗi thống khổ của kẻ đầu bạc tiễn người đầu xanh, chứ
không muốn để Quang Tự chịu cảnh bi ai mất mẹ.”

“Quang Tự có phải do Từ
Hy sinh ra đâu, mẹ Quang Tự là em gái Từ Hy.”

“Nhưng trên danh nghĩa
vẫn là mẹ, mà dù gì cũng vẫn cùng huyết thống mà,” tôi nói. “Tóm lại, bàn tay
Từ Hy đưa thuốc độc run rẩy lắm. Vì vậy mới nói, Từ Hy quả đã tốn nhiều tâm
huyết.”

“Nói như vậy, khi liên
quân tám nước đến chân thành Bắc Kinh, Từ Hy trước khi bỏ trốn còn sai người
đẩy Trân Phi xuống giếng, cũng là tốn nhiều tâm huyết à?” Noãn Noãn nói.

“Trân Phi bị nhốt mãi
trong lãnh cung, thân thể nhất định đã đóng băng rồi. Từ Hy phải bỏ Bắc Kinh
chạy đến Tây An, một lộ trình xa xôi là thế, Trân Phi làm sao chịu đựng nổi sự
giày vò ấy? Vì không muốn để Trân Phi phải chịu đựng nỗi khổ của cuộc hành
trình dài đằng đẵng, Từ Hy chỉ còn cách sai thái giám đẩy nàng xuống giếng. Lúc
hạ lệnh, giọng Từ Hy nghẹn ngào mãi.”

“Đổi tiếp chủ đề,” Noãn
Noãn nói, “và không được liên quan đến Từ Hy nữa.”

“Thế thì hết chủ đề
rồi,” tôi nói, “nhưng chủ đề đầu tiên của anh vẫn chưa nói hết.”

“Chủ đề đầu tiên?” Noãn
Noãn hơi nghi hoặc. “Tự nhiên em quên mất rồi, là gì thế?”

“Hồ Côn Minh đẹp thật.
Nhưng khi đi bên em, lại thấy hồ Côn Minh và em như chị em gái, hơn nữa Noãn
Noãn là chị, còn hồ Côn Minh là em.” Nói liền một mạch xong, tôi vội vàng bổ
sung thêm: “Nếu như mạo phạm, xin được lượng thứ. Em cứ coi như anh đang nói
nhảm đi.”

phá lệ,” Noãn Noãn cười
nói: “một ngày nghe tận hai câu quái đản.”

Chúng tôi tới bến thuyền
Thủy Mộc, khi Từ Hy đi đường thủy từ thành Bắc Kinh tới Di Hòa Viên, thuyền ngự
đều neo tại đây.

Đi về hướng Bắc một
chút, chính là điện Lạc Thọ nơi Từ Hy ở, phần lớn thời gi­an những năm cuối
đời, Từ Hy đều trải qua ở đây.

loading...

Trong điện Lạc Thọ còn
có một bức ảnh Từ Hy đóng vai Quan Âm, cảm giác khi nhìn tổng thể chỉ thấy kỳ
quái.

Bạn có thể liên hệ giữa
chó săn với người đẹp được không chứ?

“Từ Hy quả là tốn nhiều
tâm huyết,” tôi nói.

“Anh lại nữa rồi,” Noãn
Noãn nói.

“Từ Hy đóng Quan Âm, mục
đích là để nhắc nhở mọi người, thế gi­an này có rất nhiều con sói đội lốt cừu,
tuyệt đối đừng để ngoại hình che mắt,” tôi nói. “Vì vậy mới nói, Từ Hy quả là
tốn nhiều tâm huyết.”

“Từ Hy rốt cuộc phải tốn
tâm huyết đến tận lúc nào đây?”

“Đến đây thôi,” tôi nói.

Từ điện Lạc Thọ đi về
hướng Tây qua Yêu Nguyệt Môn, liền đến hành lang dài Trường Lan nổi tiếng của
Di Hòa Viên.

Trường Lang được xây
dựng theo kiểu kiến trúc điển hình của Trung Quốc, là hành lang nối giữa các
phòng, chỉ có nóc mà không có tường hai bên, vì vậy khi tản bộ trên Trường Lang
ta vừa có thể thưởng thức cảnh đẹp, lại có thể tránh nắng tránh mưa.

Trường Lang trong Di Hòa
Viên, phía nam cồ Côn Minh, phía bắc kề núi Vạn Thọ, phía đông dựng Yêu Nguyệt
Môn, phía tây có Thạch Trương Đình; dài tới 728 mét, cứ bốn cột trụ làm thành
một gi­an, tổng cộng có 273 gi­an.

Nửa trên mỗi gi­an lắp
các thanh ngang, nửa dưới lại đặt băng ghế bằng gỗ dọc theo lan can.

Trên các thanh dầm của
Trường Lang vẽ kín những bức tranh màu sắc tươi sáng, tổng cộng có hơn 14000
bức, không bức nào giống bức nào.

Những bức tranh này được
vẽ theo phong cách hội họa Gi­ang Tô, đại để có thể phân thành bốn loại: người
vật, sơn thủy, chim hoa, kiến trúc phong cảnh.

Với kiến trúc độc đáo,
hội họa phong phú, Trường Lang được công nhận là gallery tranh dài nhất thế
giới.

Tản bộ trên Trường Lang,
dường như ta đang bước vào một gallery hội họa trang nhã độc đáo; mỗi người như
cũng tự biến thành một chú cá, bơi lội trong họa cảnh.

Những bức tranh trong
Trường Lang, cùng đình đài lầu các, sông núi hoa cỏ bên ngoài san sát nối tiếp
nhau, khiến mắt người không kịp nghỉ ngơi.

Nếu đi mệt rồi, ta có
thể ngồi xuống những băng ghế gỗ hai bên bất cứ lúc nào. Ngồi thưởng thức tranh
cũng là một kiểu nghỉ ngơi lý thú.

“Anh!” Cậu em khóa dưới
chạy lại nói: “Thử vừa đi vừa ngẩng đầu ngắm tranh xem, mỗi bức đều phải nhìn
cho kỹ ấy, xem anh đi được mấy bước mà không chóng mặt.”

“Từng này tuổi đầu rồi
còn chơi mấy trò trẻ con ấy nữa.” Tôi tỏ vẻ khinh bỉ.

“Thử đi mà,” Noãn Noãn
nói.

“Ừ,” tôi lập tức thay
đổi thái độ, “giữ tâm hồn thơ trẻ cũng ha

Tôi ngửa cổ nhìn lên, đi
từng bước chậm rãi, xem thật kỹ từng bức tranh trên các thanh ngang, thanh dầm.

Những bức họa đầy màu
sắc, tạo hình phong phú, tôi dần cảm thấy mắt hoa lên, bèn dừng lại.

“Anh mới đi được 29
bước,” cậu em nói, “em đi được 37 bước, Vương Khắc còn đi được tận 48 bước.”

“Thế thì làm sao?” tôi
nói.

“Thế chứng tỏ IQ của anh
thấp hơn em với Vương Khắc.”

“Vớ vẩn!”

“Anh ấy thẹn quá nổi
giận rồi,” cậu ta quay sang nói với Vương Khắc, “chúng ta mau chuồn thôi.”

Bóng cậu chàng và Vương
Khắc khuất xa rồi, tôi mới quay sang Noãn Noãn nói: “Noãn Noãn, em cũng thử
xem.”

“Không cần thử nữa,”
Noãn Noãn nói, “IQ của em chắc chắn cao hơn anh.”

“Cái đó cũng chưa chắc.”

“Hay là thử đánh cược
xem, nếu như IQ của em cao hơn anh, anh phải đưa em tới Noãn Noãn.”

“Em nói đúng đấy,” tôi
gật đầu, “IQ của em chắc chắn cao hơn anh.”

Tới Bài Vân Môn, cũng
vừa đúng dạo hết nửa phía đông của dãy hành lang. Chúng tôi ngoành sang hướng
Bắc, đi thẳng tới núi Vạn Thọ.

Từ Bài Vân Môn đi men
lên theo núi Vạn Thọ, lần lượt thấy Nhị Cung Môn, Bài Vân Điện, Đức Huy Điện và
Phật Hương Các.

Những kiến trúc này trải
từ nam tới bắc, từ thấp lên cao, tăng dần t tầng thế núi, cảnh sắc hùng vĩ.

Bài Vân Điện tầng tầng
trùng điệp, ngói lưu ly bảy màu sặc sỡ, là nơi Từ Hy nhận lễ mỗi lần mừng thọ.

Bên trong trưng bày
những món quà các vương công đại thần mừng thọ Từ Hy 70 tuổi, còn có cả một bức
tranh sơn dầu vẽ Từ Hy.

Từ Bài Vân Điện tới Đức
Huy Điện, leo tiếp 114 bậc cầu thang, là tới Phật Hương Các.

Cầu thang 114 bậc cao
chừng 20 mét, bằng một tòa nhà sáu tầng, đội hẳn Phật Hương Các lên cao.

Từ dưới nhìn lên Phật
Hương Các cheo leo nơi đỉnh núi, cảm tưởng như cao ngút chọc trời.

“Mình không leo đâu,
mình sợ độ cao.” Chân Vương Khắc đã hơi bủn rủn.

“Nào,” cậu em tôi ngồi
xổm xuống, quay lưng về phía Vương Khắc, “mình cõng bạn.”

“Cảm ơn.” Tôi ngồi lên
lưng cậu ta. “Vất vả cho chú quá, chú thật chu đáo.”

“Mấy tuổi đầu rồi mà còn
đùa nữa.” Cậu ta đứng phắt dậy.

Tôi vồ phải một con ếch,
cả Noãn Noãn và Vương Khắc đều bật cười.

“Noãn Noãn,” tôi hỏi,
“em sợ độ cao không?”

“Không,” Noãn Noãn trả
lời, “em thích độ cao.”

“Như chơi xếp hình ấy
hả?”

“Đúng thế.” Noãn Noãn
bật cười.

Mọi người đều đã đi xa
cả rồi, bốn chúng tôi vì bệnh sợ độ cao của Vương Khắc vẫn cắm rễ lại đây. Noãn
Noãn đưa ra một sáng kiến: cậu em khóa dưới tôi sẽ đi trước dắt tay Vương Khắc,
tôi và Noãn Noãn đi sau phụ trách cản tầm nhìn của cô bạn này.

Chúng tôi nhất trí làm
như vậy, cậu em tôi tay phải dắt Vương Khắc, tôi và Noãn Noãn một phải một trái
áp sát đằng sau, còn Vương Khắc thì cúi gằm mặt, không nhìn lên cũng chẳng nhìn
xuống, bước dần từng bước lên trên.

Leo mãi leo mãi, Noãn
Noãn đột nhiên nói: “Từ Hy quả là tốn nhiều tâm huyết.”

Vương Khắc dường như khá
kinh ngạc, quay đầu lại nhìn một cái, rồi lập tức quay lên.

“Bậc thang dốc thế này,
Từ Hy không thể tự mình leo, chắc chắn phải có người khiêng lên. Từ Hy biết
nguyên nhân yếu kém của người Trung Quốc là do thể chất không kiện toàn, nên
mới xây bậc thang siêu dốc, để người đỡ bà ta rèn luyện sức khỏe. Khi Từ Hy
ngồi giữa kiệu nhìn mấy người đang khiêng mình, nhất định rưng rưng nước mắt.”
Noãn Noãn nói: “Vì thế mới nói Từ Hy quả tốn nhiều tâm huyết.”

“Noãn Noãn,” Vương Khắc
phá lên cười, “cậu nói kiểu gì thế?”

Noãn Noãn cười đắc ý,
tiếng cười vừa dứt, chúng tôi đã lên tới Phật Hương Các.

Phật Hương Các được xây
dựa triền núi, cao 41 mét, có tám mặt, ba tầng lầu, bốn lớp mái, vô cùng uy
nghi.

Bên trong có thờ một pho
tượng Quan Âm nghìn tay bằng đất, cao chừng ba mét.

Cứ đến mùng một và mười
lăm hàng tháng, Từ Hy lại đến đây dâng hương cúng Phật, những ngày còn lại hẳn
đều có thể tùy tiện sát sinh.

Phật Hương Các nằm ở
trung tâm Di Hòa Viên, từ đây nhìn xuống, có thể thu hết cảnh đẹp của Di Hòa
Viên vào tầm mắt.

Nhìn ra Tiên Đảo nằm
giữa hồ Côn Minh, rồi Trường Đê, Thạch Kiều, xa xa phía tây là núi Ngọc Tuyền
và dãy Tây Sơn, nước hồ trong xanh sắc núi biêng biếc, lầu gác thanh nhã, khiến
lòng người cũng vui vẻ thoải mái.

Chúng tôi xuống núi theo
đường cũ, vốn lo không biết Vương Khắc sẽ xuống núi thế nào, nhưng rồi hơn hai
mươi bạn sinh viên quây thành ba vòng tròn, lấy Vương Khắc là tâm, cả đoàn
người từ từ xuống núi.

Vương Khắc lúc đầu còn
thấy ngại, về sau lại cảm thấy buồn cười, chúng tôi cũng cười cười nói nói suốt
chặng đi xuống.

Quay về Bài Vân Môn, lại
đi bộ men theo bờ tây Trường Lang, đi hết Trường Lang liền trông thấy một con
thuyền đá.

Thuyền đá có tên là
thuyền Thanh Yến, lấy ý từ câu “hà thanh hải yến”, dài 36 mét, neo bên bờ hồ
Côn Minh.

Thuyền đá được đẽo dựng
từ đá cẩm thạch trắng, bên trên có hai tầng lầu mang phong cách phương Tây, còn
phần mái là mái hiên kiểu Trung Quốc.

Sàn thuyền được lát đá
hoa, cửa sổ khảm kính màu, trên nền đá cẩm thạch trắng càng hiện ra tinh xảo
hoa lệ.

Kính màu khiến người ta
liên tưởng đến phong cách trang trí nhà thờ phương Tây, hơn nữa bánh lái hai
bên mạn thuyền cũng mô phỏng theo thuyền hơi nước của phương Tây, vì vậy có thể
nói thuyền đá chính là sản vật kết hợp giữa Đông và Tây, là một biểu tượng quan
trọng của Di Hòa Viên.

Thuyền Thanh Yến là nơi
Từ Hy ngắm cảnh hồ và thưởng thức yến tiệc, có lúc còn sai cung nữ và thái giám
hóa trang thành người cá.

Đáng tiếc con thuyền đá
này đã không thể chạy trên mặt nước, mà cũng chẳng chở nổi gi­ang sơn nhà
Thanh.

Chúng tôi ở trên thuyền
Thanh Yến xử lý mấy kiểu ảnh cuối xong, bèn tới phố Tô Châu sau núi Vạn Thọ.

Phố Tô Châu nằm hai bên
bờ sông Tô Châu sau núi, xây mô phỏng theo những con phố ven sông ở vùng sông
nước Gi­ang N

Cả con phố dài gần 300
mét, được sông Tô Châu chia làm hai dãy lầu ốc, nối với nhau bằng các cây cầu
gỗ hoặc cầu đá.

Sông Tô Châu quanh co
uốn lượn, thoắt rộng thoắt hẹp, kiến trúc hai bên bờ tuy đa dạng nhưng đều mang
phong cách đơn giản thanh nhã, được xây bằng gỗ kết hợp gạch xám ngói xanh. Bờ
sông kè bằng đá.

Điều này khiến tôi nhớ
đến bài Nguyên khúc “Thiên tịnh sa – Thu tư” từng miêu tả: Tiểu kiều, lưu thủy,
nhân gia.

Trên phố Tô Châu, biển
hiệu cửa tiệm hai bên bờ đều mang dáng vẻ cổ xưa, rèm vải, màn che, cờ xướng
đều được dùng làm biển hiệu.

Hoàng hậu đời Thanh
thích dong thuyền du ngoạn tại đây, kẻ làm người ở trong tiệm đều do các thái
giám cung nữ sắm vai.

Hàng trăm năm trước, nơi
đây từng có những cửa tiệm phục vụ tốt nhất thế giới, bởi mỗi khi khách hàng
bước vào nhân viên trong tiệm đều quỳ xuống nghênh tiếp.

Tôi và Noãn Noãn thả bộ
dọc theo con phố, phía xa cây cối um tùm một màu xanh biếc, bờ sông liễu rủ
thướt tha, trên sông thuyền nhỏ bơi qua bơi lại; nếu như không thỉnh thoảng lại
thấy những biển báo nhắc nhở du khách cẩn thận kẻo ngã xuống sông, mọi thứ đều
khiến người ta như thể chìm trong một thế ngoại đào viên của thế kỷ 18.

Chúng tôi nhìn thấy một
lá cờ trắng viền mép đỏ bên trên có viết hai chữ “Tiền Trang[22]”, bèn tò mò
bước vào.

Hóa ra phố Tô Châu gi­ao
dịch bằng tiền đồng và nguyên bảo[23], Tiền Trang chính là điểm đổi nhân dân tệ
sang tiền đồng và nguyên bảo, một tệ đổi được một đồng tiền đồng.

Tôi và Noãn Noãn đổi một
ít tiền đồng và nguyên bảo, rồi bước vàorà quán bên cạnh uống trà nói chuyện.

Ngồi trên tầng hai trà
quán, nhìn ra những cây cầu nhỏ vất qua mặt nước, tưởng tượng miền sông nước Gi­ang
Nam thuở xưa có chăng cũng giống như cảnh đang trước mắt.

Thời gi­an cũng giống
như nước sông Tô Châu, cứ chậm rãi chậm rãi, lặng lẽ chảy.

“Đồ bán ở đây nhất định
rất rẻ,” tôi nói.

“Sao công tử lại nói
vậy?” Noãn Noãn nói.

“Ý?” tôi nói, “cách nói
của em thay đổi rồi.”

“Hoàn cảnh xô đẩy,” Noãn
Noãn nói.

“Xin cô nương trở lại
thế kỷ 21, có được chăng?”

“Được thôi,” Noãn Noãn
cười khúc khích, “anh nói đi xem nào.”

“Lúc dạo phố, Từ Hy hỏi:
Cái áo này bao nhiêu tiền? Cung nữ đáp: Mười lạng bạc ạ. Từ Hy nói: Đắt quá.
Cung nữ lập tức quỳ xuống dập đầu khóc than: Nô tài đáng chết!” tôi nói: “Kẻ
bán đắt đều bị giết sạch, tự nhiên sẽ có truyền thống bán rẻ.”

“Lời công tử hẳn là nói
xằng.”

“Hở?”

“Nói nhảm!” Noãn Noãn
lại bật cười.

Rời khỏi trà quán, chúng
tôi đi qua một cây cầu đá sang phố đối diện, trông thấy hàng chữ đen trên lá cờ
trắng: Coi chữ.

“Anh chỉ nghe qua có coi
bói với đo chữ, coi chữ là cái gì?” tôi hỏi Noãn Noãn.

Noãn Noãn lắc đầu, nói:
“Vào coi

Một ông lão râu dài đến
ngực ngồi nghiêm trang trong trạm quán, bên cạnh có hàng chữ nhỏ:  Năm
đồng tiền.

Tôi và Noãn Noãn quay
sang nhìn nhau, cùng gật gật đầu, rồi ngồi xuống.

“Viết lên tờ giấy này,
cả hàng ngang lẫn hàng dọc, mỗi hàng khoảng mười chữ.” Ông lão đưa cho chúng
tôi hai tờ giấy, nói: “Viết nhiều hơn vài chữ cũng không sao, số chữ hàng ngang
hàng dọc khác nhau cũng không sao.”

Tôi nghĩ một chút, rồi
viết hàng dọc trước: Làm chuyện gi­an tà, tận tụy đốt hương chẳng ích.

Rồi viết đến hàng ngang:
Có lòng chính trực, gặp ta chẳng lạy sao đành.

“Đây là cái gì thế?”
Noãn Noãn hỏi.

“Là câu đối trong miếu
Thành Hoàng ở Đài Nam,” tôi nói.

“Anh tỏ vẻ chứ gì?” Noãn
Noãn cười rất vui vẻ.

“Đây là thói quen xấu
của kẻ mọt sách, bị em nhìn thấu rồi,” tôi nói.

Noãn Noãn cũng nghĩ một
lúc, rồi viết hàng ngang trước: Biết dụng tâm phản tặc tự tiêu, tự xưa hiểu
binh không hiếu chiến.

Rồi viết đến hàng dọc:
Không hiểu chuyện khoan nghiêm nhầm lẫn, về sau phải suy xét tỏ tường.

“Đây là câu đối trong
đền Vũ Hầu ở Thành Đô,” Noãn Noãn nói.

“Em cũng có thói quen xấu
của kẻ mọt sách hả?”

“Đúng thế,” Noãn Noãn
cười nói. “Nhưng em mọt hơn, vì em nhiều chữ hơn anh.”

Chúng tôi đưa hai tờ
giấy cho ông lão, ông ta chỉ liếc qua một cái liền hỏi tôi: “Anh đây viết chữ
Phồn thể[24]?”

“Vâng ạ,” tôi nói, “Cháu
từ Đài Loan đến.”

“Thảo nào.” Ông lão khẽ
gật đầu.

“Có phải người viết chữ
Phồn thể sẽ có vận mệnh khá tốt không?” tôi hỏi.

“Tôi chỉ xem tính cách,
không xem mệnh,” ông lão nói.

Ông lão này bảnh thật,
nói chuyện chẳng cười cợt chút nào.

“Cách sắp xếp hàng dọc
và hàng ngang không giống nhau, về cơ bản sẽ có chín loại thế này ├, ┤, ┼, ┬,
┴, ┌, ┐, └, ┘đại diện cho suy nghĩ cơ bản của mỗi người.” Ông lão chấm bút
xuống nghiên mực, vừa viết lên giấy vừa giảng giải: “Của anh đây là ┼ à, là
cách viết duy nhất có hàng ngang xuyên qua hàng dọc, suy nghĩ khác biệt, thường
bất đồng với người khác. Của cô đây là ┴, suy nghĩ cẩn trọng tỉ mỉ, không dễ
mắc sai lầm.”

“Vậy còn những cái khác
thì sao?” tôi hỏi.

“Hỏi nữa phải trả thêm
một đồng tiền,” ông lão nói. “Câu này tạm không thu tiền, về sau là không được
đâu đấy. Nói một cách đơn giản, cách viết thường thấy nhất ở người bình thường
là ├  và ┤, suy nghĩ dễ thiên về một phía, không biết suy nghĩ từ một góc
độ khác.”

Tôi và Noãn Noãn đều
không dám mở miệng, chỉ sợ hở ra lại phải đưa thêm một đồng tiền nữa. Ông lão
uống ngụm trà xong, rồi nói tiếp: “Viết hàng ngang hay hàng dọc trước thể hiện
phong cách hành sự. Anh viết hàng dọc trước, cúi đầu về phía trước, hành động
tích cực; lại vừa hay kết hợp với kiểu ┼, suy nghĩ độc đáo sẽ càng rõ ràng,
cũng sẽ không quan tâ tới ý kiến của người khác. Cô viết hàng ngang trước, phàm
chuyện gì cũng cân nhắc trước sau, lấy an định làm đầu, lại kết hợp với kiểu ┴,
suy nghĩ sẽ càng bình tĩnh, thời gi­an và số lần suy nghĩ sẽ càng nhiều.”

“Loại nào thì tốt hơn?”
Tôi nhỡ hỏi xong liền đưa tay bịt miệng.

Ông lão không trả lời,
bưng cốc trà lên uống một ngụm. Tôi lấy ra một đồng tiền đặt lên bàn, ông ta
mới nói tiếp: “Người Trung Quốc theo đạo Trung Dung, vạn sự đều không có gì là
tốt xấu tuyệt đối. Hành sự quá tích cực dễ liều lĩnh; suy nghĩ quá nhiều dễ
giậm chân tại chỗ. Hai người đều có khuyết điểm, điểm yếu của anh là không màng
trước sau, chăm chăm làm theo ý mình; điểm yếu của cô là chần chừ do dự, hành
động không dứt khoát.”

“Hai vị hãy xem.” Ông
lão hai tay cầm hai tờ giấy tôi và Noãn Noãn viết, nói: “Hai vị dù viết dọc hay
ngang, hàng chữ đều rất thẳng. Hàng ngang chỉ không gi­an, hàng dọc chỉ thời gi­an.
Hàng dọc thẳng chứng tỏ hai vị lúc nào cũng có thể tu tỉnh bản thân, có năng
lực cảnh tỉnh; hàng ngang thẳng chứng tỏ hai vị muốn cải thiện hoàn cảnh, hơn
nữa còn muốn dẫn dắt người bên cạnh đi theo hướng đúng. Điều này vừa hay có thể
bù đắp chút ít cho điểm yếu của hai người.”

Ông lão nói xong, thu tờ
giấy lại trước mặt, đặt lên mặt bàn, vuốt thẳng, rồi nói tiếp: “Nhìn từ nét
chữ, anh dùng lực viết mạnh, hành sự dũng cảm; nét chữ quá thẳng, hành sự cứng
nhắc, không biết sửa đổi. Ngay như chữ ‘ta’ này…”

Ông lão dùng bút khoang
tròn chữ “ta” tôi vừa viết, nói:

“Nét móc góc dưới bên trái
quá sắc, nét chấm thu bút góc trên bên phải quá lớn, lực dùng lại mạnh nhất
trong cả chữ, thể hiện anh có tính cách góc cạnh, dễ đắc tội với người khác mà
không biết. Quan trọng nhất là, chữ của anh quá ‘vuông’, dường như mỗi chữ khi
viết, xung quanh đều đóng thêm một cái khung vuông, nhưng trên giấy trắng hoàn
toàn không có khung, khung được vẽ lên trong lòng anh, đấy chính là sự trói
buộc trong anh.”

“Cô đây thì không có vấn
đề gì.” Ánh mắt ông lão chuyển sang tờ giấy Noãn Noãn viết, ông nói:

“Lực viết vừa đủ, viết
liền mạch không ngắt nét, giữa các nét bút vô cùng hài hòa, thể hiện cô là
người có tính cách dễ gần, nhân duyên rất tốt. Đáng tiếc là nét bút cuối cùng
vừa yếu lại không rõ ràng, khoảng cách giữa các chữ có hiện tượng càng lúc càng
sát lại, do đó cái cô thiếu là dũng khí và quyết tâm hành động.”

“Vậy cô ấy nên làm thế
nào?” Tôi lại lấy một đồng tiền đặt lên trước mặt ông.

“Hành sự không nên nghĩ
quá nhiều, đối với người cũng không nên quá tốt,” ông lão nói.

“Vậy còn cháu?” Tôi đang
chuẩn bị móc tiền ra thì ông lão đã xua xua tay.

“Câu hỏi này xin miễn
cho lão không trả lời, sự trói buộc trong anh chỉ có thể tự mình tháo gỡ mà
thôi.”

Ông lão nói xong bèn đưa
tay ra hiệu “Mời”, tôi và Noãn Noãn đành đứng dậy rời đi.

“Xin đợi đã,” ông lão
gọi chúng tôi lại, “chữ viết là thứ có thể thay đổi, mấy năm nữa có lẽ sẽ không
còn giống bây giờ nữa. Sau này hai người có thể so sánh với chữ trên giấy này.”
Ông đưa hai tờ giấy ban nãy cho chúng tôi, Noãn Noãn giơ tay ra nhận.

Tôi chỉ đi hai bước, rồi
lại quay lại đặt một đồng tiền xuống trước mặt ông lão, hỏi: “Xin hỏi cháu và
cô ấy có thích hợp không?”

“Cô cậu có hai người, vì
vậy tính là hai câu hỏi,” ông lão nói.

Tôi đành móc ra một đồng
tiền nữa đặt lên bàn.

“Anh hỏi về tính cách?”
ông lão nói.

“Phải.” Tôi nói xong,
liền giơ tay phải nắm lấy một đồng tiền trên bà

Ông lão tỏ vẻ kinh ngạc,
tôi nói: “Vì ông cũng hỏi một câu.”

Ông lão lần đầu tiên khẽ
nở một nụ cười, nói: “Như cá gặp nước, ý khí tương đầu.”

Tay phải tôi nắm chặt
lấy đồng tiền, cả nắm tay đập lên mặt bàn, đồng tiền va vào bàn gỗ phát ra một
tiếng khô đét.

“Còn nữa…” Noãn Noãn
đang ở bên cạnh, tôi không dám hỏi thẳng, nhưng vẫn thu hết can đảm, nói: “Ví
dụ như, một nam một nữ, ngoài ý khí tương đầu ra, còn có gì khác, cũng tương
đầu không?”

Ông lão nắm lấy đồng
tiền, tay phải thuận thế tung lên trời, đồng tiền vẽ lên một đường vòng cung
trong không trung, rồi rơi tõm một tiếng xuống sông Tô Châu.

“Câu hỏi này phải hỏi
ông trời,” ông lão nói.

Rời khỏi trạm quán, tôi
và Noãn Noãn đều như có tâm sự, chẳng ai nói câu nào.

“Em thấy ông lão vừa rồi
thế nào?”

Tôi nói xong, bèn đưa
một đồng tiền cho Noãn Noãn, em đưa tay nhận lấy.

“Rất kỳ quái.” Noãn Noãn
lại đưa đồng tiền cho tôi, hỏi: “Anh thấy sao?”

“Không phải rất kỳ quái,”
tôi nói, “mà là cực kỳ cực kỳ kỳ quái.”

Nói rồi chúng tôi nhìn
nhau đầy hàm ý, cùng bật cười.

Mọi người tập trung trên
một chiếc cầu đá hổng cao ngang tòa nhà hai tầng, sau đó rời Di Hòa Viên theo
đường Bắc Cung Môn.

Bất luận là ngồi trên
xe, ăn cơm trong căng tin trường, hay lúc tắm rửa, trong đầu tôi đều không
ngừng hiện lên bộ râu của ông lão.

Tắm rửa xong tới giảng
đường tán phét, hỏi rất nhiều người xem có coi chữ ở chỗ ông lão ấy không?

Kết quả mọi người đều
chỉ đi qua chứ không vào coi chữ; duy có cậu em khóa dưới tôi là ngồi xuống
coi.

“Em cứ nghĩ là coi về
nhân duyên, nên mới để ông ta coi chữ,” cậu ta nói.

Cậu ta kể ông lão còn
chưa mở lời, cậu ta đã bô bô ra ngày tháng năm sinh, còn hỏi xem nhân duyên của
mình có phải ở phương bắc không?

“Nhân duyên của cậu trên
núi cao, nói là phương Bắc so với Đài Loan cũng không sai,” tôi nói chen vào.

“Sao lại là ở núi cao?”
Cậu ta tò mò.

“Thiếu Lâm Tự trên núi
cao,” tôi nói, “cậu có mệnh xuất gia.”

“Anh này,” cậu ta nhăn
nhó mặt mày, “đừng có đùa nữa.”

“Được,” tôi cười cười,
“thế ông lão nói thế nào?”

“Ông ấy nói: không coi
nhân duyên, chỉ xem tính cách. Thế là em đành ngoan ngoãn viết chữ.” Cậu ta đưa
mảnh giấy mình viết cho tôi, hàng dọc viết: Tôi đói bụng quá muốn về nhà ăn
cơm.

Hàng ngang viết: Ông
không xem nhân duyên thì ngồi đây làm gì.

Hai hàng xếp thành hình
┬, không thẳng cũng không lệch, cong cong như hình chữ S.

Dáng chữ xiêu xiêu vẹo
vẹo, chữ to chữ nhỏ không đều.

Ông lão nói suy nghĩ của
cậu ta không theo lý lẽ thông thường, không quy phạm, dễ tùy tiện xằng bậy;
nhưng vì tính cách tốt, nên nét chữ tùy ý lại là một dạng phúc báo.

“Đúng rồi,” tôi nói,
“sao cậu lại muốn hỏi nhân duyên?”

Cậu chàng ra hiệu tôi hạ
âm lượng xuống, rồi mới nói khẽ: “Bước ra ngoài cái rồi nói.” Nói rồi cậu ta đi
ra ngoài giảng đường, tôi cũng đứng lên đi một bước rồi dừng lại.

“Kìa anh,” cậu ta nói,
“sao thế?”

“Cậu chỉ nói bước một
cái thôi mà,” tôi nói.

Cậu ta chạy lại, hoàn
toàn mất kiên nhẫn đẩy thẳng tôi ra khỏi giảng đường.

Đã cách xa khu giảng
đường, cậu em khóa dưới tìm một chỗ yên tĩnh không người, chúng tôi ngồi bệt
xuống đất.

“Anh ạ,” cậu ta mở
miệng, “anh có biết em thích Vương Khắc không?”

“Cũng nhìn ra,” tôi nói.

“Tinh thế sao?” Cậu ta
tỏ vẻ kinh ngạc.

“Có thằng đần mới không
nhận ra,” tôi nói. “Thế cậu thích Vương Khắc, vậy thì sao?”

“Sáng ngày kia chúng ta
phải về Đài Loan rồi, em muốn…” Thái độ cậu ta có vẻ ngại ngùng.

Tôi cũng sực nhớ ra.

Đúng rồi, sắp phải về
rồi, cũng nên về rồi.

Mấy ngày nay ở Bắc Kinh,
chẳng hề có ý nghĩ nhớ nhà, nhất thời quên rằng mình hoàn toàn chẳng thuộc về
nơi đây

Nhưng bất kể bản thân có
quen hay thích nơi này, cuối cùng cũng phải trở về thôi.

“Sắp về Đài Loan rồi,
vậy nên?” tôi định thần lại, hỏi.

“Em muốn nói với Vương
Khắc, là em thích cô ấy,” cậu ta nói.

“Vậy tốt quá rồi,” tôi
nói.

“Nhưng mà nếu cô ấy cũng
thích em, thì phải làm thế nào?”

“Cậu thích cô ấy, cô ấy
cũng thích cậu, vui vẻ thế còn gì?”

“Em ở Đài Loan, còn
Vương Khắc ở tận Bắc Kinh đấy,” giọng cậu ta hơi kích động, “đường xá xa xôi,
lại còn cách cả co biển Đài Loan, về sau sao mà tiếp tục được?”

“Vậy thì đừng nói với cô
ấy nữa, cứ coi như một đoạn ký ức đẹp trong đời thôi.”

“Em sợ sau này đến già
vẫn cô đơn một mình, dắt con chó già đi dạo trong công viên, lại cúi xuống lẩm
bẩm với nó: Hồi trẻ tao từng thích một cô gái đấy, nhưng tao không nói với cô
ấy, đây là di hận lớn nhất trong đời tao. Nói xong nước mắt còn rơi lã chã. Mà
con chó già chỉ có thể ăng ẳng mấy tiếng, liếm liếm những giọt nước mắt nơi
khóe mắt em. Rồi sau em lặng lẽ ngồi lên băng ghế đá tróc sơn trong công viên,
nhìn ánh tà dương xuống núi nơi chân trời. Màn đêm buông xuống, bóng hình một
người một chó cứ nhạt nhòa dần trong đêm đen.”

Cậu ta càng nói càng
cuống, càng cuống càng nhanh, nói liền một mạch chẳng dừng lấy hơi.

“Cậu đi viết tiểu thuyết
được rồi đấy,” tôi nói.

“Em nghiêm túc đấy,” cậu
ta nói. “Anh, anh chẳng cũng

“Cậu nhận ra à?”

“Em cũng có phải thằng
ngốc đâu,” cậu ta nói. “Anh định làm thế nào?”

Cậu em, anh lớn hơn cậu
hai tuổi. Ở tuổi này của bọn anh, cứ tăng thêm một tuổi là những thuần khiết
lại chết đi một ít.

Anh cũng từng khao khát
một tình yêu kiểu “Dậu đông hái cúc vàng hoa, núi Nam thơ thới lòng ta cảm
hoài”[25] như Đào Uyên Minh; nhưng hoa cúc đã khô héo trong thực tại, còn anh
cũng chẳng thong dong được nữa.

Đây không phải thế giới
nơi ta thích em, em thích ta là đôi mình có thể bên nhau.

Thế giới này có núi, có
biển, cũng có những bức tường ngăn cách, chứ chẳng hề bằng phẳng như chúng ta
tưởng tượng.

Tôi không thể nói với
Noãn Noãn rằng tôi thích em, hoặc như lời ông lão coi chữ trên phố Tô Châu đã
nói, đây là gút trói buộc trong tôi, là khung vuông tôi tự vẽ lên trong lòng.

Tôi không thể vượt qua
cái khung ấy, nếu như vì thế mà phải dắt chó dạo bộ trong công viên, thì cũng
đành nhận vậy.

“Mặc anh định thế nào,”
tôi nói, “cậu cứ nói với Vương Khắc đi.”

“Ngộ nhỡ cô ấy nói thích
em thì sao?” cậu em nói.

“Cậu đã tự nói là ‘ngộ
nhỡ’ rồi mà.”

“Đúng vậy, em nghĩ nhiều
quá rồi.” Cậu ta như bỗng ngộ ra chân lý. “Nếu như em nói với Vương Khắc là
thích cô ấy, chắc cô ấy sẽ nói: chúng ta cứ là đồng bào của nhau thì tốt hơn,
không nên là người yêu.”

“Anh cũng nghĩ thế

“Thoải mái hơn nhiều
rồi,” cậu ta cười cười nói. “Ngày mai em sẽ tìm cơ hội nói với cô ấy, dù gì
cũng nói ra, sau này sẽ không phải ôm di hận nữa.”

Cậu em dường như đã hất
được tảng đá đè nặng trong tim, bắt đầu bô bô ba la kể với tôi mấy chuyện vụn
vặt xảy ra trong ngày.

Cậu ta còn giữ một
nguyên bảo đổi ở phố Tô Châu làm kỷ niệm.

Lúc tôi đứng dậy định
quay lại giảng đường, cậu ta đột nhiên nói: “Anh này, như thế có phải đau xót
lắm không?”

“Hả?”

“Em thấy mừng vì Vương
Khắc sẽ từ chối em, như thế có phải xót xa lắm không?” Cậu ta cười gượng.

Tôi không sao trả lời
được câu hỏi này, lại ngồi xuống bên cậu ta.

Tận đến khi quay về ký
túc xá nghỉ ngơi, chúng tôi đều chẳng nói thêm câu nào.

 

Xem cả bộ:

Các chương khác:

xem thêm -->> truyen sex

|

xem thêm -->> Girl xinh với nội y

Truyện cùng chuyên mục:

Thế giới truyện:
Truyện tranh 18, Truyện dâm, truyện 18, truyện làm tình
Tin tức:
Girl xinh nội y
Mobile-Công Nghệ
Ngôi Sao – Showbiz
Nhịp Sống Trẻ
Tin Sock – Tin Hot
Đời Sống – Tổng Hợp
Game kinh điển: